Những mẫu truyện để suy ngẫm

Đúng ra, tựa đề tập truyện này phải là Những mẩu truyện để tự suy ngẫm. Những mẩu truyện này được góp nhặt đó đây, nhiều truyện nguyên thủy kèm lời phân tích thêm chi tiết hoặc bình luận có tính cách khuyên bảo. Có truyện chỉ dài 1/4 trang nhưng bình luận dài đến 2-3 trang! Người góp nhặt cắt đi bình luận vì không muốn mình là người ra vẻ rao giảng, và cũng vì nghĩ muốn tránh việc đọc truyện một cách thụ động.

Tốt hơn, mỗi người khi đọc nên có sự chủ động, tự suy ngẫm mà rút ra một vài ý nghĩa hay hay nào đó cho cuộc sống của mình. Tức là mỗi người phải tự “ngộ”.

Nhiều truyện sẽ cần suy ngẫm sâu xa lắm đấy! Lấy ví dụ: truyện của Kim Dung ngoài những pha võ hiệp còn thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc.

Người góp nhặt – DMT

 

Chuyện người thương binh trở về

Ðây là một câu chuyện thật xảy ra trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Chuyện kể về một người lính trẻ Hoa Kỳ trở về nhà sau khi tham chiến tại Việt Nam. Từ thành phố San Francisco, người lính trẻ gọi điện thoại về nhà cha mẹ: “Cha mẹ ơi, con đang trở về nhà, nhưng con có một điều xin cha mẹ. Con có dẫn theo một người bạn thân.”

Cha mẹ người lính trẻ trả lời bên kia đầu dây điện thoại: “Ðược, cha mẹ thích nó đi cùng con về đây và muốn được gặp nó.”

Người con nói tiếp: “Nhưng có một điều con muốn thưa với cha mẹ, bạn con bị thương tích trầm trọng trong lúc giao chiến. Nó dẫm phải mìn, mất một cánh tay và một cẳng chân. Nó không có nơi nào để ở, và con muốn nó về ở chung với gia đình ta.”

“Con ơi! cha mẹ rất tiếc khi nghe điều đó. Ta có thể giúp nó tìm một nơi nào đó cho nó ở.”

“Không, con muốn nó về ở với con, với gia đình ta.”

Người cha nói: “Con, con không biết con đang nói gì. Một người tàn tật sống với gia đình chúng ta sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình. Chúng ta có một đời sống riêng, và chúng ta không thể để việc đó ảnh hưởng đến đời sống chúng ta. Cha mẹ nghĩ rằng con nên về nhà và quên đi người bạn này. Bạn của con sẽ có thể tự tìm cuộc sống cho chính nó.”

Nghe đến đây người con chết lặng người, không thể nào nói thêm được điều gì nữa và cúp máy điện thoại. Người cha không còn nghe thấy gì nữa.

Vài ngày sau, cha mẹ người lính trẻ nhận được điện thoại từ sở cảnh sát San Francisco báo tin người con của họ đã chết sau khi rơi từ trên lầu một cao ốc. Cảnh sát tin là nạn nhân đã tự tử.

Cha mẹ người con đau khổ đáp máy bay đến San Fransisco, vào thẳng nhà quàng thành phố nhận diện xác con. Họ xác nhận nạn nhân chính là đứa con trai yêu quý của họ, mà họ mới nói chuyện với nó vài ngày trước đây.

Nhưng đau đớn thay, họ khám phá ra một điều mà họ đã không biết: đứa con trai của họ chỉ có một chân và một cánh tay!

Cây dù độ ta

Trời mưa tầm tã. Vị thiền sư bước ra khỏi mái hiên và bật dù rồi thong thả bước đi trong mưa.

Một khách bộ hành, vừa khi Sư đi ngang qua mái hiên nơi anh ta đang đứng trú mưa, gọi Sư:

–  Thầy ơi, làm ơn độ con với thầy!

Sư dừng bước, thong thả hỏi lại:

–  Anh cần ta độ anh điều gì?

Khách thưa:

–  Mong thầy làm ơn độ cho con khỏi ướt với!

–  Làm sao mà ta độ cho anh được! Anh không thấy là ta cũng không độ cho ta được, mà chính là cây dù đang độ cho ta đây. Nếu anh muốn khỏi ướt thì anh hãy kiếm cây dù độ anh chứ không phải là ta.

Nói xong, Sư thong thả bước đi trong mưa.

Tính nóng

Một thiền sinh đến than phiền với Bankei: “Thưa thầy, con có tính nóng không trị được. Làm sao để con sửa nó?”

Bankei trả lời: “Con có một cái thật lạ. Đưa cho thầy coi cái con có.”

Thiền sinh trả lời: “Ngay bây giờ thì con không đưa cho thầy coi được;”

Bankei hỏi: “Khi nào thì con cho thầy coi được?”

Thiền sinh trả lời: “Nó đến bất chợt.”

Bankei kết luận: “Vậy thì nó nhất định không phải là bản tính thật của con. Nếu nó là bản tính thật, thì con có thể cho thầy coi bất kỳ lúc nào. Khi con sinh ra con không có nó, và cha mẹ con không cho con cái đó. Hãy nghĩ lại xem.”

Ủng hộ

Nếu không có người vợ tên Sophia, chúng ta hẳn có thể không được biết đến một tên tuổi lớn trong văn học, Nathaniel Hawthorne. Khi Nathaniel Hawthorne với tâm trạng đau khổ về báo cho vợ mình biết rằng ông đã thất bại và đã bị cho nghỉ việc tại sở Hải quan, vợ ông làm ông ngạc nhiên với biểu hiện vui sướng.

Cô nói với vẻ đắc thắng: “Bây giờ, anh có thể viết cuốn sách của anh!”

Người đàn ông chùn bước: “Ừ, nhưng chúng ta sẽ sống bằng cách nào trong khi anh viết?”

Trong kinh ngạc, ông nhìn thấy vợ mình lấy từ trong tủ ra một nắm tiền lớn.

Ông hỏi: “Em lấy nó ở đâu ra vậy?”

Cô nói: “Em luôn nghĩ anh là một thiên tài. Em biết là một ngày nào đó anh sẽ viết một tác phẩm tuyệt vời. Bởi vậy mỗi tuần, từ số tiền anh đưa em để lo việc nhà, em tiết kiệm một ít. Và bây giờ số tiền này đủ cho chúng ta sống trong vòng một năm.”

Từ sự tin tưởng của cô, một trong số các tác phẩm lớn nhất trong lịch sử văn học Hoa Kỳ ra đời: Chữ A màu đỏ. [Tựa nguyên bản: The scarlet letter, được xem là một trong những tiểu thuyết kinh điển trong nền văn học Mỹ của Nathaniel Hawthorne (1804-1868). (BT)]

Ba câu hỏi của Ðức Vua

Thuở xưa, có một vị vua thuộc vào hàng minh quân, ngài thương dân như con đẻ, nhưng dù là minh quân, ngài vẫn không sao tránh được một ít lỗi lầm đáng tiếc.

Lúc tuổi cao, nhà vua nghĩ rằng giá mà thời niên thiếu, ngài được các bậc hiền tài chỉ dẫn cho ba điều thắc mắc sau đây thì có lẽ ngài sẽ tránh được rất nhiều khuyết điểm. Ðó là những nghi vấn sau:

  1. Thời gian nào là quan trọng nhất của một công việc?
  2. Nhân vật nào cần chú ý nhất đối với ta?
  3. Công việc nào là tối quan trọng và khẩn thiết nhất?

Ðức vua cho nêu ba câu hỏi trên trước hoàng thành, truyền rao khắp các thị trấn, làng mạc… và hứa sẽ trọng thưởng cho người nào có lời giải đáp khôn ngoan nhất.

Bố cáo vừa được niêm yết thì các bậc hiền tài tuấn kiệt, thạc học minh triết lũ lượt kéo nhau về kinh thành, mỗi người đưa ra một ý kiến. Triều đình phải thành lập một ban giám khảo, các quan thị lang làm việc tận lực suốt hai tháng liền mới đúc kết các khuynh hướng thiên sai vạn biệt thành một vài trường phái nhất trí và dâng lên đức vua, vị chánh chủ khảo tối cao cả nước.

Ðáp lại câu hỏi đầu tiên, có người bảo rằng: muốn biết thời gian nào là quan trọng nhất của một công việc, người ta phải thiết lập chương trình, kế hoạch, thời dụng biểu hẳn hoi. Xong, ta sẽ thực hành diễn tiến công việc theo những thời điểm qui định sẵn đó… Nhưng ý kiến này liền bị nhà vua bác bỏ vì không ai có thể tiên đoán được những điều sẽ xảy ra mà lập một khuôn mẫu sẵn, công việc đòi hỏi phải linh động mới được.

Có trường phái lại cho rằng một người không thể khôn ngoan hơn tập thể. Ðức vua nên thành lập một nội các gồm nhiều đại biểu để soạn thảo kế hoạch trước khi thi hành và làm theo quyết định chung.

Một trường phái khác lại đề nghị đức vua cần thành lập một hội đồng tiên tri để xủ quẻ trước khi thực thi một công việc…

Như thế, đại để mọi người đều đồng ý với nhau rằng: Thời gian quan trọng nhất của công việc là thời gian chuẩn bị, nghĩ suy về công việc ấy.

Về câu hỏi thứ hai, người ta càng bất đồng ý kiến với nhau: Thượng Ðế, Đức Vua, quan Tể tướng, các giáo sĩ, bốc sư v.v… được đề nghị là những nhân vật quan trọng nhất.

Câu hỏi thứ ba cũng được giải đáp trong một tình trạng tương tự – công việc nào phải được xem là quan trọng nhất – thưa: đó là việc nước, việc nhà, việc ăn, việc mặc, học hành, giao tế, tâm linh, hành chánh, kinh tế, quân sự hay là tôn giáo… các đề mục đều được các khối óc khôn ngoan tinh tế nhất đề cập tới.

Và vị chánh chủ khảo, tức là nhà vua ấy, không chấp nhận câu giải đáp nào cả. Nhiều năm trôi qua, ba câu hỏi dần dần rơi vào quên lãng…

Đến một hôm, nhà vua nghe đồn rằng ở trên một đỉnh núi phủ đầy mây nọ, có một đạo sĩ được coi là bậc giác ngộ, nhưng vị chân tu này không bao giờ chịu hạ sơn để giao tiếp với giới quyền quý. Tiếng đồn về đạo sĩ khiến đức vua chú ý và một hôm, ngài quyết định cải dạng thường dân đến tham vấn vị ẩn tu.

Ðến nơi, nhà vua gặp đạo sĩ đang cuốc đất. Vua vái chào và nêu lên ba câu hỏi.

Ðạo sĩ chỉ mỉm cười, đưa tay vỗ nhẹ nhà vua rồi tiếp tục công việc.

Ðã được báo trước về tánh khí lạ thường của đạo sĩ, đức vua không nản lòng, ngồi xuống một tảng đá chờ đợi. Hồi lâu, buồn tay, đức vua mời đạo sĩ nghỉ tay, trao cuốc cho vua làm giúp. Nhiều giờ trôi qua, đức vua vẫn xới đất, còn đạo sĩ thì nhổ cỏ quanh quẩn bên lều tranh.

Khi đôi tay vương giả bắt đầu chai phồng, đức vua ngừng cuốc nghỉ mệt giây lâu và nói với đạo sĩ:

–  Tôi từ xa lặn lội đến đây, cầu Thầy chỉ giáo cho ba điều nghi vấn. Nếu Thầy biết thì xin vui lòng chỉ dẫn cho. Bằng không, cũng xin cho tôi biết để tôi trở về kẻo tối.

Ðạo sĩ mỉm cười, định nói câu gì đó, thì chợt cả hai người cùng nghe tiếng chân chạy dồn dập. Nhà tu bảo đức vua:

–  Bác xem ai đến kìa!

Nhà vua quay lại thì thấy một người vừa ngã quỵ xuống đất, toàn thân nhuộm máu. Hai người già không ai bảo ai, đều hối hả đến bên người bị nạn. Nạn nhân chỉ còn thở thoi thóp. Vua phụ lực với đạo sĩ băng bó các vết thương… Hai người im lặng làm việc cho đến lúc ngừng tay thì mặt trời đã lặn ở đỉnh núi bên kia.

Ðưa nạn nhân vào thảo am, đặt người bệnh trên chiếc chõng tre độc nhất của căn lều, họ chia nhau mấy củ khoai rừng luộc. Rồi vì quá mệt, đức vua ngả mình xuống nền đất thiếp đi.

Sáng hôm sau, khi nhà vua giật mình thức giấc thì nắng đã nhuộm hồng thảo am, và chim rừng kêu rộn rã. Ðức vua phải bàng hoàng hồi lâu, mới nhớ rõ mình đang ở đâu và làm gì… Ðạo sĩ đã đi làm vườn, sau khi đặt một rổ khoai luộc bên cạnh ông khách. Trên chõng tre, nạn nhân đã hồi tỉnh và đang nhìn đức vua bằng cặp mắt long lanh. Ðức vua đến bên người bệnh, đặt một bàn tay lên vầng trán nóng như lửa của anh ta và cất tiếng hỏi thăm bệnh tình…

Nạn nhân bỗng òa lên khóc:

–  Xin bệ hạ tha tội cho ngu thần…

Vô cùng ngạc nhiên, đức vua hỏi:

–  Khanh là ai mà lại biết Trẫm?

–  Bệ hạ không biết thần đâu! Hạ thần chính là em trai của võ tướng Trần Ðoàn, người bị bệ hạ giết oan trong mùa thu năm Tân Dậu. Thần đã thề trước linh cữu anh là sẽ giết bệ hạ để báo thù… Biết bệ hạ lên núi này, thần mai phục sẵn. Không ngờ, đợi đến tối mà bệ hạ vẫn chưa xuống núi, thần liền đi tìm… và bị trợt chân té xuống triền núi. Nếu không nhờ bệ hạ ra tay cứu chữa thì có lẽ thần đã mất mạng. Từ đây oan cừu xin giải hết… Thần cúi mong bệ hạ tha tội chết cho thần.

–  Câu chuyện đáng tiếc năm xưa làm ta hối hận không nguôi… Nhưng việc dĩ lỡ rồi, Trẫm không biết tính sao. Bây giờ chẳng những Trẫm sẽ tha tội cho khanh mà Trẫm còn phục hồi chức tước và chu cấp cho gia đình Trần Ðoàn nữa. Khanh hãy yên tâm mà tịnh dưỡng đi.

Ðức vua ra hiệu gọi vệ sĩ đến, cho khiêng nạn nhân xuống núi và vời ngự y chăm sóc vết thương. Sắp xếp đâu đó xong xuôi, vua đi tìm đạo sĩ.

Nhà tu hành đang lúi húi trồng rau trên vạt đất mới cuốc hôm qua.

Ðức vua ngỏ ý cáo từ và lặp lại ba câu hỏi, rồi nói:

–  Xin đạo sĩ giải đáp cho.

Nhà tu mỉm cười:

–  Bần đạo trả lời cho bệ hạ rồi…

Ðức vua ngạc nhiên:

–  Thưa, hồi nào đâu?

–  Ngay lúc bệ hạ vừa nêu câu hỏi.

–  ???

–  Này nhé, thời gian nào là thời gian quan trọng nhất? Đó là lúc bệ hạ cuốc đất giúp bần đạo. Nếu thiếu khoảng thời gian này thì bệ hạ đã chết về tay anh chàng kia rồi nhé! Nhân vật quan trọng nhất chính là bần đạo đây, quan trọng đến nỗi bệ hạ phải trèo non lội suối đi tìm, có phải không? Và câu thứ ba: Công việc nào cần thiết nhất? Thưa đó là cuốc đất, việc mà hai chúng ta làm ngày hôm qua… Rồi sau đó, khi chàng thanh niên xuất hiện thì anh ta biến thành nhân vật quan trọng nhất, công việc cần thiết nhất là cứu cấp cho anh ta, và thời gian đó quan trọng nhất… Có phải thế không nào?

Nhà vua cúi đầu ngẫm nghĩ giây lâu, cất tiếng:

–  Thưa đạo sĩ, Trẫm hiểu rồi. Thời gian quan trọng nhất là thời gian hiện tại. Nhân vật cần thiết nhất là người mà ta cần gặp gỡ trong hiện tại, và công việc khẩn thiết nhất, cũng là công việc trong hiện tại… Quá khứ là những điều đã qua vĩnh viễn; vị lai chỉ là những ảo tưởng mơ hồ… Chỉ có khoảnh khắc ngắn ngủi trong hiện tại là quý nhất mà thôi. Những điều cần làm nhất là giúp đỡ người chung quanh ngay trước mắt ta trong giây phút ngắn ngủi quý báu đó… Thưa, có phải thế không ạ?

Ðạo sĩ mỉm cười, và nụ cười đó thay lời tống biệt, đưa nhà vua xuống núi, nơi mà triều đình và thần dân đang chờ đón ngài.

Uống bao nhiêu rượu thì say?

Tề Uy Vương đặt tiệc ở hậu cung, mời Thuần Vu Khôn, cho uống rượu, hỏi:

–  Tiên sinh uống được bao nhiêu rượu thì say?

Khôn đáp:

–  Thần uống một đấu cũng say, một hộc cũng say.

Uy Vương nói:

–  Tiên sinh uống một đấu đã say thì uống thế nào được một hộc? Tiên sinh có thể cho biết tại sao lại nói như vậy không?

Khôn nói:

–  Nếu cho rượu uống trước mặt đại vương, có quan Chấp pháp đứng bên cạnh, quan Ngự sử nấp sau lưng thì Khôn sợ hãi cúi đầu mà uống, chỉ mới một đấu đã say. [Chấp pháp và Ngự sử đều là những quan coi về nghi lễ. – BT]

“ Nếu cha mẹ có khách quý, Khôn vén áo khom lưng hầu rượu ở trước mặt, thỉnh thoảng được ban cho mấy giọt rượu thừa, lại phải bưng chén chúc thọ, phải đứng lên hầu rượu luôn, như thế chỉ mới hai đấu đã say.

“ Còn nếu bạn bè chơi bời lâu ngày không gặp nhau, bỗng nhiên gặp gỡ, mừng rỡ kể chuyện cũ, đem chuyện riêng ra nói cùng nhau, như thế có thể uống được năm sáu đấu là say.

“ Nhưng đến như ngày hội ở nhà quê, trai gái ngồi lẫn lộn, mời rượu dằng dai, đánh bạc, ném hồ, kéo nhau tụm năm tụm ba, nắm tay cũng không ai phạt, mắt nhìn nhau cũng không ai cấm. Đằng trước có cái hoa tai đánh rơi, đằng sau có cái trâm bị bỏ sót, Khôn trộm lấy thế làm vui, có thể uống tám đấu cũng chỉ say hai phần.

“ Khi trời chiều tiệc vãn, dồn chén ngồi kề, gái trai cùng chiếu, giày dép lẫn lộn, chén bàn bừa bãi, trên thềm tắt đuốc, chủ nhân giữ Khôn ở lại mà tiễn khách ra, áo là cởi bỏ, thoáng thấy mùi hương phưng phức. Trong lúc bấy giờ lòng Khôn rất vui, có thể uống được một hộc.

“ Vì vậy nói rượu quá hóa loạn, vui quá hóa buồn, muôn việc đều thế. Mọi việc đều không thể quá. Hễ quá thì hỏng, nên dùng lời nói bóng mà can ngăn.

Vua Tề nói:

–  Hay!

Bèn bãi bỏ việc uống rượu suốt đêm.

Trích Sử ký của Tư Mã Thiên

Ô Sào thiền sư và Bạch Cư Dị

Ô Sào thiền sư là một cao tăng Trung Hoa vào đời Đường. Khi bà mẹ hạ sanh sư, bà không ưng ý lắm nên đem bỏ con vào một chiếc tổ quạ trên cội đại thọ trước hiên chùa rồi lẩn mất. Sư xuất gia từ đó, và người ta gọi sư là thầy Ô Sào (Ô là quạ, Sào là tổ), tức là ông thầy có xuất xứ từ một chiếc tổ quạ. Tuổi ấu thơ và tráng niên của sư trôi qua bình thản trong bóng mát của tùng lâm cổ kính.

Sư thường hành thiền trên quê hương của mình, tức là nơi chảng ba có đặt chiếc tổ quạ ngày xưa mà theo năm tháng, cội cây đã to và rộng đầy đủ để cành nhánh có thể cho sư đặt một chiếc tọa cụ trên ấy. Cho đến khi ngộ đạo và hành đạo, thiền sư vẫn không rời “quê mẹ.”

Một hôm, quan thị lang Bạch Cư Dị, một thi hào lừng danh đương thời, đi dạo ngang cổng chùa, trông thấy nhà sư đang ngồi vắt vẻo trên tàng cây. Vốn không ưa người “lánh nợ đời” như thế, ông cau mày hỏi:

–  Bộ hết chỗ rồi hay sao mà thầy lựa chỗ hiểm nghèo như thế để ngồi?

Thiền sư bình thản đáp:

–  Chỗ của tôi xem ra còn vững vàng hơn chỗ của quan lớn đang an tọa nhiều.

Quan thị lang nhìn lại chiếc kiệu của mình đang ngồi, ngạc nhiên:

–  Chỗ tôi đang ngồi có gì đáng ngại đâu?

–  Thưa, chỗ đại quan là dưới vua, trên các quan và trăm họ. Vua thương thì quần thần ghét, được lòng dân thì mất lòng vua. Tính mạng của đại quan cùng thân quyến đều lệ thuộc vào lòng yêu ghét của vua và sự tật đố tị hiềm của bạn bè. Một chiếc ghế được kê trên đầu lưỡi thiên hạ thì làm sao bì được với sự cứng chắc của cội cây này được! Có phải thế không thưa đại quan?

Bạch Cư Dị nghe nhà sư nói chỉ im lặng cúi đầu. Ông bắt đầu học đạo với thiền sư Ô Sào từ đó.

Dưới sự dẫn dắt của thiền sư “Tổ quạ”, không bao lâu vị đại quan này đại ngộ.

Hai viên gạch xấu

Đến miền đất mới, các vị sư phải xây dựng, mua dụng cụ và bắt tay vào làm việc. Một chú tiểu được giao xây một bức tường gạch. Chú rất tập trung vào công việc, luôn kiểm tra xem viên gạch đã thẳng thớm chưa, hàng gạch có ngay ngắn không. Công việc tiến triển khá chậm vì chú đặc biệt kỹ lưỡng. Tuy nhiên, chú không lấy đó làm phiền lòng bởi chú biết mình sắp sửa xây một bức tường tuyệt đẹp đầu tiên trong đời.

Cuối cùng chú cũng hoàn thành công việc vào lúc hoàng hôn buông xuống. Khi đứng lui ra xa để ngắm nhìn công trình lao động của mình, chú bỗng cảm thấy có gì đó đập vào mắt: mặc dù chú rất cẩn thận khi xây bức tường, nhưng vẫn có hai viên gạch bị đặt nghiêng. Và điều tồi tệ nhất là hai viên gạch đó nằm ngay chính giữa bức tường. Chúng như đôi mắt đang trừng trừng nhìn chú. Kể từ đó, mỗi khi du khách đến thăm ngôi đền chú tiểu đều dẫn họ đi khắp nơi trừ đến chỗ bức tường mà chú xây dựng.

Một hôm có hai nhà sư già đến tham quan ngôi đền. Chú tiểu cố lái họ sang hướng khác nhưng hai người vẫn nằng nặc đòi đến khu vực có bức tường mà chú xây dựng.

Một trong hai vị sư khi đứng trước công trình ấy thốt lên: “Ôi, bức tường gạch mới đẹp làm sao!”

Chú tiểu kêu lên trong ngạc nhiên: “Hai vị nói thật chứ? Hai vị không thấy hai viên gạch xấu xí ngay giữa bức tường kia ư?”

Vị sư già từ tốn: “Có chứ, nhưng tôi cũng thấy 998 viên gạch còn lại ghép thành một bức tường tuyệt vời ra sao.”

Chuyện âm phủ

Tại âm phủ, một hồn ma đang quỳ đối chất trước Diêm Chúa, giữa hai vị công an của diêm phủ là Ngưu Ðầu và Mã Diện.

Diêm Chúa ngồi trên chín bệ dõng dạc ra lệnh:

–  Phán Quan đâu, đọc hồ sơ lý lịch của tên này xem!

Phán Quan liền cất giọng đọc, rõ ràng và chậm rãi:

–  Trần Văn Trụi, 82 tuổi, du thủ du thực, vô gia cư lẫn nghề nghiệp, trúng gió chết tại chợ Bến Thành.

Hồn ma lễ phép đưa một tay xin góp ý:

–  Muôn tâu Diêm Chúa, cho con được phép cải chính.

–  Hử?

–  Thưa, con đúng tên là Trần Văn Trụi, nhưng mới 28 tuổi chứ không phải là 82 tuổi đâu ạ!

–  Sao? Phán Quan…, hắn nói thế đúng không?

Phán Quan giật mình, kéo áo lau kính, xem lại sổ bộ, ấp úng:

–  Dạ… dạ…

–  Ðúng hay sai chớ dạ cái gì?

–  Bẩm đúng ạ!

–  Chèn đét ơi! Mấy người làm ăn kiểu này thì chết tôi rồi… Ngưu Ðầu đâu?

–  Dạ! Có con đây ạ.

–  Mau lên giữ xác nó, kẻo người ta đem chôn bây giờ. Tại sao mà ra cớ sự như vậy hử?

Ngưu Đầu vội vã ra đi.

Phán Quan gãi đầu ấp úng:

–  Dạ… dạ… tại mới mua cặp kính, nhìn chưa quen mắt, nên ngu thần đọc nhầm 28 thành 82 ạ… Xin Thánh thượng bớt giận, thần sẽ đi thay kính lập tức.

–  Nó có số sống đến bao nhiêu tuổỉ?

–  Muôn tâu… 82 tuổi ạ!

–  Vậy thì chờ đợi gì nữa mà không dắt nó đi nhập xác?

Hồn ma liền xen vào:

–  Muôn tâu Diêm Chúa! Những tưởng nhân gian mới làm ăn bê bối… dè đâu… đây cũng vậy. Con đang đi ăn phở với người yêu trước chợ Bến Thành thì thấy hai cha nội nầy đến thộp cổ dắt đi… Có lẽ bây giờ người yêu của con uống thuốc chuột chết theo con rồi cũng không biết chừng!

Diêm vương hạ giọng:

–  Thôi! “Thiên tãi nhất thì” mới có một vụ lầm lẫn. Mũi dại thì lái chịu đòn… Ngươi cho ta xin lỗi vậy, về dương gian đi… Vui vẻ nhé!

–  Muôn tâu, xin Ngài hãy bồi thường thiệt hại cho con.

–  Mi muốn gì? Giấy tiền vàng bạc nơi đây đâu thể đem về trển mà xài được!

–  Thưa… con chỉ muốn xin rằng luôn tiện Ngài cho con liếc sơ qua cái phiếu lý lịch số ba, tức là cung tình duyên gia đạo của con ấy. Liệu con có lấy được người mình yêu và nàng có thành thật với con không ạ?

–  A! Thằng nhãi…! Biết trước vị lai để làm gì? Chẳng sướng ích gì đâu con ạ!

–  Muôn tâu, nếu Ngài không bằng lòng, khi về dương gian, con nhất định sẽ làm ầm lên về cái chuyện này, con sẽ…

–  Tặc! Thằng ranh! Ðừng có dở trò hăm dọa, ta không ngán mi đâu… Mà thôi… Phán Quan đâu?

–  Dạ, có thần đây.

–  Ðọc phiếu số ba cho nó nghe đi!

–  Vâng ạ!

Phán Quan liền lau kính, hắng giọng, đọc: “Trần Văn Trụi, sinh ngày… tại Cao Lãnh, con nhà giàu, đẹp trai, học giỏi. Ðương sự có số công danh, khoa cử, thi đâu đậu đó. Năm 25 tuổi tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh hạng Bình, được bổ nhiệm về Sài Gòn. Năm 28 tuổi y cưới vợ là một hoa khôi ở Cầu Bông. Năm 29 tuổi làm Trưởng ty Công chánh ở Tây Ninh, năm 30 bị gọi nhập ngũ, gắn lon trung úy, năm 31 tuổi có con trai đầu lòng, năm 32 tuổi có con gái… Năm 33 tuổi bị trúng mìn đáng lẽ chết phanh thây ở cầu Ông Phủ, nhờ còn âm đức y thoát chết, chỉ gẫy một chân và mù một mắt, vinh thăng đại úy rồi giải ngũ. Năm 40 tuổi… hai đứa con lớn của y bị chết ở Vũng Tàu, năm 45 tuổi bị sốt tê liệt, nằm nhà thương hai năm. Năm 50 tuổi, nhà cháy, vợ y hóa điên. Năm 82 tuổi y mất trí nhớ, du thủ du thực đi xin ăn lẩn quẩn ở các chợ, Cầu Muối, Bến Thành rồi trúng gió chết…”

Phán Quan đọc xong, hồn ma tháo mồ hôi hột, đứng chết sững.

Diêm Vương thúc:

–  Sao? Ðủ chưa?… Xong rồi đó. Ði đi cha nội…

Hồn ma vẫn còn chần chừ.

Phán Quan hối:

–  Lè lẹ lên! Ở đó mà kêu ca hoài, cái xác mi mà sình lên thì chỉ còn nước đem chôn.

Trần văn Trụi đáp một cách xuôi xị:

–  Bẩm! Hay là để cho thiên hạ chôn quách đi cho rồi!

Chửi mắng

Một lần, Phật đi giáo hóa vùng Bà La Môn. Các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo sau mà chửi. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức giận, chặn Phật lại hỏi:

–  Cù-đàm có điếc không?

–  Ta không điếc.

–  Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?

–  Này Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?

–  Quà ấy về tôi chứ ai.

–  Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.

Tạm bợ

Một vị thầy tâm linh nổi tiếng đến trước cửa lâu đài của vị vua nọ. Vì thầy nổi tiếng rồi, nên lính canh không chặn ông lại.

Ông đi vào và tiến thẳng đến trước mặt nhà vua đang ngồi trên ngai vàng.

Nhà vua hỏi: “Ông muốn gì?”

Vị thầy đáp: “Tôi muốn có một chỗ để ngủ trong cái quán trọ này.”

Vua trả lời: “Nhưng đây không phải là quán trọ, đây là tòa lâu đài của ta.”

“Xin hỏi bệ hạ rằng ai là sở hữu tòa lâu đài này trước bệ hạ?”

“Vua cha ta, Ngài băng hà rồi.”

“Và ai là sở hữu trước cha của bệ hạ?”

“Ông nội của ta, Ngài cũng đã băng hà.”

“Cái chỗ này, nơi mà người ta sống một thời gian ngắn rồi rời xa, như vậy thì nó không phải là quán trọ như bệ hạ nói hay sao?”

Phồn thịnh thật sự

Một phú hộ đến nhờ thiền sư Sengai viết cho một câu hoành phi nói đến sự giàu có của gia đình y để truyền lại cho các thế hệ sau.

Sengai lấy một tờ giấy thật lớn rồi viết: “Cha chết, con chết, cháu chết.”

Người phú hộ nổi giận: “Tôi nhờ ngài viết cho câu gì nói đến hạnh phúc của gia đình tôi. Sao ngài lại đùa cợt thế này?”

Sengai giải thích: “Chẳng có ý đùa cợt đâu. Này nhé, nếu con của ông chết trước ông thì thật là một điều bất hạnh. Nếu cháu của ông chết trước con ông, có phải là cả hai cha con đau khổ lắm không? Nếu mỗi thế hệ trong gia đình ông đều theo tuần tự mà qua đời thì đó mới đúng là giòng đời tự nhiên. Ta gọi đó là phồn thịnh thực sự.”

Một nơi an lành

Các đệ tử: Xin Thầy mở lòng từ bi chỉ cho chúng con một nơi an lành tịnh tịch.

Thiền sư: Nếu ta chỉ cho các ngươi nơi đó, thì chốn đó không còn an lành tịnh tịch nữa.

Mạng đền mạng

Có người thợ làm việc trên một tầng lầu cao. Rủi trật chân, té xuống đường. Trong khi té, lại rớt nhằm đầu một người đi qua đường. Người ấy chết, mà anh thợ thì sống.

Con trai người chết thưa lên quan, yêu cầu “mạng đền mạng.” Luật hiện hành trong xứ ấy, hễ gây thiệt mạng cho ai, phải đền bằng tội chết.

Biết rõ người thợ không phải cố sát, nhưng trước luật pháp hiện hành, không còn cách nào khác để cứu người vô tội, quan tòa bèn tuyên án:

–  Hễ “sát nhân giả tử”, luật pháp là như thế không ai có thể gỡ được. Tên thợ này làm chết người, phải thường mạng. Nhưng muốn thực hiện công lý ấy, thì nó đã giết người bằng cách nào, bây giờ người ta phải giết nó bằng cách ấy. Nay ta phán rằng: Đứa con khổ chủ phải lên trên lầu cao ngay chỗ tên thợ trước đây đã đứng, đợi khi tên thợ ấy bước ngang, thì gieo mình ngay trên đầu nó, để giết nó!

Đứa con nạn nhân lật đật đến tòa xin bãi nại.

Trích Cái cười của thánh nhân của Nguyễn Duy Cần

An hưởng cuộc đời

Ngày xưa, có vị Hoàng Đế nọ muốn ban trọng ân cho một người cận thần. Nhà vua phán: “Ngươi có công lao rất lớn với ta. Kể từ cổng thành trở đi, ngươi phóng ngựa đi tới nơi nào ngươi dừng lại thì khoảng đất đó ta sẽ ban cho ngươi.”

Viên cận thần nhảy lên ngựa phóng đi, ra sức phóng ngựa để có được càng nhiều đất càng tốt. Người đó đi suốt ngày đêm, khi mệt và đói vẫn không dám ngừng nghỉ vì muốn có nhiều đất.

Tới một ngày kia, sức khoẻ kiệt quệ vì đói và mệt, hắn lả đi gần chết ở trong rừng. Hắn lẩm bẩm: “Tại sao ta tham lam quá độ vậy? Ta tận sức để có được nhiều đất đai. Bây giờ thì gần chết rồi, ta chỉ mong có được một thước đất để được chôn cất mà thôi!”

Cách nấu nướng

Trong lớp đại học về quản trị, giáo sư đưa ra một vấn đề để thử thách sinh viên giải quyết: ông muốn nướng một kí lô thịt bò trong một cái lò nướng đã có sẵn nhiệt độ là 300 ºC, làm thế nào để biết thời gian nướng cho vừa độ chín “medium” tức là đến khi phần trung tâm của miếng thịt này lên đến 100 ºC? Để tìm ra câu trả lời, sinh viên có thể đề nghị mọi phương thức, nguyên tắc hay lý thuyết mà không nhất thiết tự mình sẽ làm được.

Một sinh viên đề nghị là nên mua một miếng thịt bò nặng 1 kí, cắm một nhiệt kế sâu vào trung tâm miếng thịt, đem nướng, đo thời gian khi nhiệt kế chỉ 100 ºC, thế là có lấy kết quả. Giải pháp gọn gàng!

Một sinh viên lấy ý đó mà thêm là nên mua năm miếng thịt bò mỗi miếng nặng 1 kí, cắm một nhiệt kế sâu vào trung tâm miếng thịt, đem nướng, đo thời gian khi nhiệt kế chỉ 100 ºC, rồi lấy kết quả bình quân từ các miếng thịt khác nhau. Như vậy kết quả mới chắc ăn!

Một sinh viên khác đề nghị một cách thức khoa học hơn: cũng mua vài miếng thịt bò, cũng đem nướng, nhưng dùng dụng cụ đo đặc biệt để tìm ra hệ số truyền nhiệt của thịt bò. Từ đó dùng công thức vật lý về truyền nhiệt ta có thể tính ra thời gian nướng.

Một sinh viên khác nhân ý kiến đó cho rằng không cần mua thịt bò, mà có thể giả sử là hệ số truyền nhiệt của thịt bò bằng với hệ số truyền nhiệt của nước vì lẽ thịt bò chứa trên 95% là nước, do đó có thể áp dụng ngay công thức vật lý để tính ra.

Nhiều sinh viên đưa nhiều cách thức khác nhau.

Cuối cùng một sinh viên đưa tay nói: “Tôi chỉ cần gọi điện hỏi mẹ tôi. Bà chắc chắn có thể trả lời được ngay, vì bà vốn quen nướng thịt bao nhiêu lần cho cả nhà ăn”.

Ông giáo sư cho anh này điểm cao nhất, và giải thích: “Giải pháp nhanh, gọn, không tốn kém phiền phức, mà vẫn hợp lý, kết quả tin được!”

Cách xử thế của thầy dạy học

Xưa, có một chú học trò được dịp lên phố chơi. Nhằm ngày chợ phiên, một vụ mất cắp xảy ra tại quán trọ, chú học trò liền bị quan huyện bắt nhốt vì người ta ngờ chú là thủ phạm.

Sau khi trải qua những thủ tục tra hỏi phiền phức, quan huyện tìm ra thủ phạm chính, chú học trò được trắng án ra về.

Khi về làng, gặp lại vị thầy dạy học, chú nhỏ tức tưởi kể lại tự sự, bộc bạch nỗi hàm oan của mình.

Ông thầy im lặng nghe xong câu chuyện, nghiêm nghị ra lệnh đánh đệ tử mười roi phạt. Ðương sự rất ngạc nhiên, nhưng không dám cãi lời thầy, riu ríu leo lên bộ phản nằm chờ trận đòn mà lòng hoang mang vô kể.

Các bạn chú thấy thế, ngạc nhiên thưa:

–  Thưa thầy, trò này vô tội sao lại bị đòn?

Ông thầy từ tốn giải thích:

–  Ðành rằng nó vô tội, nhưng tại sao giữa phố chợ đông đảo chỉ mình nó bị tình nghi là kẻ cắp? Ta đánh đây là phạt cái tội nó có bộ vó của thằng ăn cắp để cho người ta nghi ngờ. Nếu nó không chỉnh đốn tư cách lại, ta e rằng nó sẽ bị hàm oan nhiều lần nữa.

Cô lái đò

Xưa, có một thiền sư có việc phải sang sông. Ngồi trên đò, sư hơi kinh ngạc vì nhan sắc dễ coi của cô gái miền quê. Ðến lúc lên đò, hành khách mỗi người phải trả cho cô một quan tiền. Sư cũng định thế, không ngờ cô gái hóm hỉnh bảo:

–  Xin nhà thầy trả cho tôi hai quan!

Sư còn đang ngạc nhiên thì cô lái đò tiếp:

–  Một quan cho tiền đi đò và một quan về khoản nhìn người lái đò.

Vốn không ưa tranh cãi lôi thôi, sư liền trả cho cô hai quan tiền, nhưng trong bụng hơi ấm ức!

Bận về sư cứ dí mũi xuống sàn thuyền, không dám nhìn lên. Nào ngờ lần này cô lái đò bảo:

–  Xin nhà thầy cho ba quan!

Không nhịn được nữa, nhà sư cãi:

–  Nhưng tôi có nhìn cô đâu nào?

Cô lái đò mỉm cười:

–  Ðồng ý là thầy không nhìn tôi bằng mắt, nhưng thầy lại nhìn bằng tâm… Vì thế tôi mới tăng giá gấp đôi lên cơ chứ!

Tại sao lại là tôi?

Tay vợt Arthur Ashe nổi danh một thời (giành được 3 danh hiệu Grand Slam), bị nhiễm AIDS qua lượng máu truyền cho ông trong một cuộc giải phẫu tim vào năm 1983.

Ông nhận được thư thăm hỏi từ các nơi trên thế giới, trong số đó có một câu hỏi: “Tại sao Thượng Đế lại chọn ông cho căn bệnh quái ác như thế?”

Arthur Ashe trả lời:

“Trên khắp thế giới có 50 triệu trẻ em bắt đầu tập chơi quần vợt, 5 triệu người lớn lên còn theo đuổi quần vợt, 500.000 người trở thành tay vợt nhà nghề, 50.000 người tham gia vào các giải đấu quan trọng, 5.000 người được chọn tranh tài ở các giải Grand Slam, 50 người lọt vào vòng trong giải Wimbledon, 4 người vào bán kết, 2 người vào chung kết, rồi sau đó tôi nhận cúp. Lúc ấy, tôi không hề hỏi Thượng Đế: “Tại sao lại là tôi?” Thế nên bây giờ, trong khi đau đớn vì căn bệnh, tôi không nên hỏi Thượng Đế: “Tại sao lại là tôi?”

Hình ảnh cuộc đời

Nhà tỷ phú nọ mang cậu con trai duy nhất về nơi thôn dã với ý định để cho con tìm hiểu và so sánh với cuộc sống nghèo nàn của người dân quê. Hai cha con sống hai ngày tại một làng xóm xa xôi nơi mà người ta cho là có đời sống khó khăn.

Sau khi trở về nhà, người cha hỏi người con:

“Con thấy cuộc đi chơi ra sao?”

“Cuộc đi chơi thích thú lắm,” người con trả lời.

“Con nhận thấy gì trong cuộc sống của người dân quê?”

“Con nhận thấy chúng ta chỉ có mỗi một con chó, mà họ thì có tới bốn con. Chúng ta chỉ có một hồ bơi nhỏ ở giữa vườn, còn họ thì có cả một nhánh sông chảy mút mùa. Chúng ta phải nhập cảng những chiếc đèn để treo trong vườn mà họ thì không cần đến vì họ có đầy sao chiếu sáng lúc ban đêm. Tại chỗ ngồi chơi trước nhà, chúng ta chỉ có thể nhìn tới bức tường ở cổng trước mà thôi, còn họ có thể ngồi nhìn suốt tận chân trời. Chúng ta chỉ có một khoảnh đất để sống quanh quẩn ở đó, còn họ có cả một khoảng đồng ruộng thẳng cánh cò bay. Chúng ta phải có người làm để giúp việc chúng ta, còn họ thì không cần, họ tự lo lẫn cho nhau. Chúng ta phải bỏ tiền đi mua đồ ăn, còn họ trồng lấy và tự túc về thực phẩm. Nhà chúng ta phải có tường bao quanh để bảo vệ chúng ta, còn họ thì không cần vì họ có những bạn tốt để đùm bọc lẫn nhau.”

Trước những lý luận của người con trai, người cha không nói nên lời.

Người con nói tiếp: “Con cám ơn cha đã mang con đi du hành để tỏ bầy cho con thấy chúng ta đang có một cuộc đời nghèo nàn như thế nào!”

Câu chuyện quản trị

Thời nhà Hán bên Trung Hoa, Hiếu Văn Đế (trị vì 180 tCN – 157 tCN) được lập lên làm hoàng đế khi tuổi còn nhỏ, nên phụ giúp nhà vua có Chu Bột làm hữu thừa tướng (tương tự thủ tướng chính phủ bây giờ) và Trần Bình làm tả thừa tướng, ngôi thứ nhì (tương tự phó thủ tướng bây giờ, nhưng chỉ có 1 phó thủ tướng thôi).

Thời gian đầu, Hiếu Văn Đế chỉ ngồi nghe quần thần bàn luận, hữu thừa tướng và tả thừa tướng tham mưu ý kiến, rồi nhà vua chuẩn tấu.

Được ít lâu, sau khi đã quen việc nước, Hiếu Văn hoàng đế triều hội hỏi hữu thừa tướng:

– Trong thiên hạ, một năm xét xử ngục hình bao nhiều người?

Chu Bột tạ lỗi, nói:

– Thần không biết.

Nhà vua lại hỏi:

– Trong thiên hạ một năm tiền và thóc xuất nhập bao nhiêu?

Chu Bột lại tạ lỗi, nói:

– Thần không biết!

Chu Bột mồ hôi ra ướt đẫm cả lưng vì thẹn không biết trả lời như thế nào.

Vua bèn hỏi tả thừa tướng Trần Bình.

Trần Bình nói:

– Đã có người lo những việc ấy.

Vua hỏi:

– Ai lo những việc ấy?

Trần Bình nói:

– Bệ hạ nếu hỏi về việc xử ngục hình thì hỏi quan đình úy, nếu hỏi về tiền và thóc thì hỏi quan trị túc nội sử.

Vua hỏi:

– Nếu việc gì cũng có người lo, thì ông còn phải lo việc gì?

Trần Bình tạ lỗi và nói:

– Muôn tâu bệ hạ! Bệ hạ không kể thần tài hèn sức mọn, cho thần lạm giữ chức thừa tướng. Chức vụ thừa tướng trên thì giúp thiên tử chỉnh lý âm dương, làm cho bốn mùa hòa thuận; dưới thì nuôi vạn vật đều được thoả thích; bên ngoài thì trấn áp, vỗ về tứ di, chư hầu; bên trong thì thân với trăm họ, làm cho các quan khanh và đại phu ai cũng đảm nhiệm tốt chức vụ của mình.

Thật ra là Trần Bình tỏ ý khiêm tốn chứ không có ý phải tạ lỗi.

Hiếu Văn Đế khen phải.

Hữu thừa tướng rất thẹn, đi ra trách Trần Bình:

– Sao ông không bày trước cho tôi biết để tôi trả lời?

Trần Bình cười:

– Ông ở địa vị của mình mà lại không biết chức trách của mình sao? Nếu bệ hạ hỏi số người ăn trộm ăn cướp ở Tràng An thì ông định nói liều sao?

(Theo Sử ký của Tư Mã Thiên)

Phương Sinh đại sư

… Giữa lúc ấy bỗng nghe đánh “binh” một tiếng! Bà bà bị trúng một nhát chưởng của Phương Sinh ngã ngửa về phía sau.

Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi, chàng nghiêng người phóng kiếm vào Phương Sinh. Chiêu kiếm này thế đi cực kỳ xảo diệu, nó bức bách Phương Sinh phải nhảy lùi lại. Lệnh Hồ Xung lại phóng theo chiêu nữa. Phương Sinh giơ binh khí lên đỡ.

Lệnh Hồ Xung rụt trường kiếm về thì đã thành thế đối diện với Phương Sinh. Chàng thấy nhà sư già dùng thứ binh khí là một cây bổng bằng gỗ dài ba thước, không khỏi chấn động tâm thần, nghĩ bụng: “Không ngờ binh khí của lão chỉ là cây bổng gỗ ngắn ngủi. Nội lực vị cao tăng chùa Thiếu Lâm này thiệt lợi hại! Nếu ta không dùng kiếm thuật kiềm chế lão thì bà bà không thoát chết được.”

Chàng nghĩ vậy liền đâm trên một kiếm, dưới một kiếm. Rồi chàng lại đâm luôn hai chiêu nữa. Kiếm pháp chàng thi triển đây là kiếm pháp của Độc Cô Cầu Bại mà Phong Thanh Dương đã truyền thụ cho ngày trước.

Phương Sinh đại sư thấy Lệnh Hồ Xung thi triển mấy chiêu này liền mặt tái mét, miệng ấp úng:

–  Ngươi… ngươi…

Lệnh Hồ Xung không dám ngừng lại. Chàng tự biết bản thân không còn chút nội lực nào, chỉ sơ hở một chút là bị nội lực của đối phương đánh tới ngay. Dĩ nhiên mình phải chết đã đành, nhưng bà kia cũng bị lão bắt đem về chùa Thiếu Lâm xử tử.

Gặp lúc trong lòng trống rỗng sáng suốt, chàng liền đem mấy ngàn chiêu thức biến ảo kỳ diệu về “Độc cô cửu kiếm” ra mà phát theo ý muốn.

Ngày trước Độc Cô Cầu Bại tung hoành võ lâm, khắp thiên hạ không ai địch nổi, thậm chí lão cầu thua lấy một lần cũng không được, kiếm pháp của lão tuyệt diệu đến độ xuất quỉ nhập thần. Nếu Lệnh Hồ Xung một là không mất hết nội lực, hai là trong chỗ tinh vi về kiếm pháp còn những điểm chưa lĩnh hội hoàn toàn, bằng không thì Phương Sinh đại sư bản lãnh có cao thâm đến đâu cũng khó lòng chống nổi chục chiêu.

Phương Sinh đại sư cứ phải lùi hoài. Còn Lệnh Hồ Xung thì cảm thấy nhiệt huyết trồi lên ngực, cánh tay mềm nhũn rất là khó chịu. Kiếm chiêu chàng sử mỗi lúc một bạc nhược.

Phương Sinh đại sư bỗng quát lên một tiếng thật to:

–  Buông kiếm xuống!

Tay trái nhà sư nhằm chụp trước ngực Lệnh Hồ Xung còn cây đoản bổng bên tay mặt nhằm đánh vào cánh tay phải chàng.

Cánh tay Lệnh Hồ Xung nguyên kiệt lực. Chàng phóng chiêu kiếm sau mới được nửa vòng thì cánh tay rũ xuống. Giả tỷ là người khác thì chiêu kiếm sơ hở này chỉ còn đường đưa tính mạng cho đối phương. Nhưng kiếm pháp của chàng đã không vào khuôn phép nào thì cũng không biết đâu là hư hay thực, không biết đâu là chính hay phụ, trong bụng muốn thế nào là sử ra như vậy. Thanh trường kiếm của Lệnh Hồ Xung tuy hạ thấp xuống mà vẫn đâm ra được. Có điều như vậy dĩ nhiên chậm lại một chút.

Phương Sinh đại sư bản lãnh cực kỳ lợi hại. Tay trái lão vung ra nắm được trước ngực chàng, nhưng nhà sư vẫn hoài bão lòng từ bi không nhả kình lực, cất tiếng hỏi:

–  Ngươi là môn hạ ai?

Lúc này mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung đã đâm tới trước ngực nhà sư. Nhưng chàng đối với vị cao tăng chùa chùa Thiếu Lâm này rất đem lòng kính ngưỡng, vừa cảm thấy mũi kiếm chạm vào da đối phương liền rụt về ngay. Cử động này quá mạnh khiến người chàng hất ngửa về phía sau, ngồi phệt xuống đất. Miệng chàng không ngớt chảy máu tươi ra.

Phương Sinh đại sư đè tay vào chỗ bị thương trước ngực, mỉm cười nói:

–  Hảo kiếm pháp! Thiếu hiệp mà không lưu tình thì tính mạng lão tăng đã chết uổng rồi.

Nhà sư không nhắc gì đến chính lão đã nhẹ tay không bóp Lệnh Hồ Xung. Lão nói rồi không ngớt lo lắng.

Nguyên Lệnh Hồ Xung tuy thu kiếm kịp thời, song mũi kiếm đã đâm sâu vào trước ngực nhà sư mấy tấc, vết thương không phải là nhẹ.

Lệnh Hồ Xung một tay chống xuống đất, đầu rũ xuống, nói:

–  Vãn bối… mạo phạm tiền bối… thật hối hận vô cùng!…

Phương Sinh đại sư mỉm cười nói:

–  Không ngờ kiếm pháp tuyệt diệu của Phong Thanh Dương tiền bối vẫn còn truyền nhân ở thế gian. Ngày trước lão nhân đã chịu ơn to của Phong tiền bối. Câu chuyện này lão tăng… lão tăng không thể tự mình chủ trương được.

Nhà sư thò tay vào trong áo cà sa móc một gói giấy ra, mở lấy hai viên thuốc lớn bằng mắt rồng nói:

–  Đây là linh dược trị thương của chùa Thiếu Lâm, thiếu hiệp hãy uống một viên đi!

Nhà sư ngần ngừ một lúc rồi tiếp:

–  Còn một viên đưa cho nữ thí chủ kia.

Lệnh Hồ Xung cười đáp:

–  Thương thế của vãn bối trị không khỏi được nữa, còn uống thuốc làm chi cho uổng? Đại sư giữ lấy viên thuốc để mà dùng.

Phương Sinh lắc đầu đáp:

–  Không cần!

Rồi đặt cả hai viên thuốc xuống trước mặt Lệnh Hồ Xung.

Đoạn nhà sư đưa mắt nhìn bốn cái tử thi của bọn Giác Nguyệt, Tân Quốc Lương, thần sắc lão rất thê lương! Lão giơ tay lên tụng niệm kinh văn một lúc, diện mạo trở lại bình hòa. Sau cùng mặt lão dường như bao phủ một làn thánh quang sáng rực. Phải là bậc xứng đáng với bốn chữ “đại từ đại bi” mới có hình dong này…

Phương Sinh đại sư niệm kinh xong, quay lại bảo Lệnh Hồ Xung:

–  Thiếu hiệp! Truyền nhân của kiếm thuật Phong tiền bối quyết không phải là phe yêu tà. Thiếu thí chủ đầy lòng nghĩa hiệp, theo lẽ ra không thể chết uổng. Có điều trong người thiếu hiệp bị thương rất quái dị, không thể lấy thuốc thang mà chữa được, cần luyện nội lực cao thâm mới bảo toàn được tính mạng. Theo ý kiến của lão tăng thì thiếu hiệp nên theo lão tăng về chùa Thiếu Lâm để bẩm rõ với chưởng môn phương trượng đem nội công tâm pháp tối thượng của bản phái truyền thụ cho.

Nhà sư ho mấy tiếng rồi nói tiếp:

–  Về việc luyện nội công tâm pháp này cần đến “duyên pháp.” Lão tăng vô duyên với vụ này. Chỉ có Phương Chứng sư huynh, chưởng môn phương trượng chùa Thiếu Lâm, từ bi quảng đại hoặc giả có duyên cùng thiếu hiệp mới truyền thụ tâm pháp này.

Lệnh Hồ Xung đáp:

–  Vãn bối xin đa tạ hảo ý của đại sư. Xin chờ cho vãn bối hộ tống bà cụ kia đến chỗ bình yên, nếu may mắn vãn bối chưa chết sẽ lên chùa Thiếu Lâm bái kiến đại sư cùng chưởng môn phương trượng.

Phương Sinh nói:

–  Thiếu hiệp… kêu nữ thí chủ đó bằng bà cụ ư? Thiếu hiệp ơi! Thiếu hiệp là đệ tử danh môn chính phái, không nên cùng phe đảng với bọn yêu tà. Lão tăng lấy lời thành thực khuyên can. Mong rằng thiếu hiệp nghĩ kỹ.

Lệnh Hồ Xung nói:

–  Bậc đại trượng phu đã trót lời hứa với người ta, có lý đâu lại thất tín được?

Phương Sinh đại sư thở dài nói:

–  Đành vậy! Lão tăng về chùa Thiếu Lâm trước chờ thiếu hiệp đến.

Nhà sư ngó lại thi thể bốn người lần nữa rồi nói:

–  Bốn cái túi da hôi hám này mai táng cũng được mà không mai táng cũng vậy. Đã lìa cõi trần, thì nhất thiết thành không hết.

Nhà sư nói đoạn xoay mình từ từ bước đi.

Trích Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung

Phúc duyên

Phương Chứng nói:

–  Lão tăng nghe Phương Sinh sư đệ nói kiếm thuật của thiếu hiệp tinh thâm tuyệt diệu và được chân truyền của Phong lão tiên sinh về môn “Độc cô cửu kiếm.” Thật là đáng mừng! Phong lão tiên sinh qui ẩn đã lâu, lão tăng tưởng lão nhân gia tạ thế rồi, mà té ra người vẫn còn sống ở nhân gian, khiến người nghe tin vui mừng khôn xiết.

Lệnh Hồ Xung nghe Phương Chứng nói vậy, chàng chỉ “dạ” một tiếng…

Phương Chứng hai mắt hé mở, nói:

–  Sau khi bị thương thiếu hiệp lại gặp những người điều trị lầm lẫn nên nỗi trong người có nhiều luồng chân khí dị chủng xung kích nhau mà khó bề hòa tán được. Phương Sinh sư đệ nói cho lão tăng biết một cách tường tận. Lão tăng đã tham khảo kỹ càng thì chỉ còn cách luyện tập “Dịch Cân Kinh”, một môn nội công kỳ bí của bản phái, mới có thể dùng công lực bản thân để hóa giải dần dần. Bằng dùng ngoại lực miễn cưỡng điều trị thì tuy có thể kéo dài cuộc sống cho thiếu hiệp được thêm ít ngày, mà thực ra chẳng khác gì lấy nước muối uống cho đỡ khát, mối họa càng sâu xa hơn. Phương Sinh sư đệ đã đem công lực trút vào để cứu mạng thiếu hiệp trong ba tháng nay, thế là trong người thiếu hiệp lại thêm một luồng chân khí dị chủng nữa. Thiếu hiệp thử vận khí mà coi sẽ rõ.

Lệnh Hồ Xung khẽ vận chân khí, quả nhiên thấy khí huyết trong huyệt đan điền bành trướng lên. Nếu không tự kiềm chế được thì cơn đau công kích trái tim kịch liệt đến toát mồ hôi trán.

Phương Sinh chắp tay nói:

–  Bần tăng bất tài khiến cho thiếu hiệp thêm phần đau khổ.

Lệnh Hồ Xung nói:

–  Sao Đại sư lại nói vậy? Đại sư vì vãn bối mà tận tâm kiệt lực, hao tổn đến nhiều công việc thanh tu. Vãn bối còn sống được phải đền ơn tái tạo của đại sư.

Phương Sinh đáp:

–  Bần tăng không dám. Ngày trước Phong lão tiên sinh thi ân cho lão tăng nhiều lắm. Hành động của lão tăng chẳng qua gọi là báo đáp lão tiên sinh trong muôn một.

Phương Chứng ngẩng đầu lên nói:

–  Còn nói chi đến chuyện ơn cao đức cả, thù sâu hận lớn? Ân đức là cơn duyên, còn cừu hận không nên để vào lòng. Bao nhiêu việc trần tục đều như khói tỏa mây bay. Sau cuộc trăm năm chẳng còn đâu là ân đức, cừu thù.

Phương Sinh đáp:

–  Dạ! Đa tạ những lời chỉ điểm của sư huynh.

Phương Chứng thủng thẳng nói:

–  Đệ tử nhà Phật lấy từ bi làm gốc. Thiếu hiệp bị thương như vậy, bọn lão phải tận tâm giải cứu. Pho “Dịch Cân Kinh” đó là của Đạt Ma lão tổ sáng chế ra.

Rồi Phương Chứng thuật lại lai lịch của pho “Dịch Cân Kinh.”

Phương Chứng nói:

–  “Dịch Cân Kinh” tuyệt diệu ở chỗ bao quát các mạch lạc con người, liên hệ với tinh thần ngũ tạng. Khắp mà không tan, đi mà không dứt. Khí ở trong sinh, huyết ở ngoài thân. Luyện được kinh này rồi thì tâm động là nội lực tự phát huy như nước triều dâng. Thiếu hiệp ơi! Luyện “Dịch Cân Kinh” khác nào bơi thuyền trên làn sóng dữ. Đợt sóng dâng lên hạ xuống thì con thuyền dĩ nhiên lúc cao lúc thấp, cần chi phải dùng sức!

Lệnh Hồ Xung gật đầu lia lịa. Chàng nhận thấy lý luận của Phương Chứng về “Dịch Cân Kinh” cũng nhiều chỗ ám hợp với kiếm lý của Phong Thanh Dương. Quả nhiên là một môn võ học tinh thâm bát ngát.

Phương Chứng lại nói:

–  Vì “Dịch Cân Kinh” có uy lực ghê gớm như vậy nên mấy trăm năm nay nếu không gặp người xứng đáng là không truyền thụ, không có cơ duyên cũng không truyền thụ. Dù là đệ tử bản phái tư cách siêu quần xuất chúng mà không đủ phúc duyên cũng chẳng được truyền thụ. Tỷ như Phương Sinh sư đệ: võ công cao thâm, chí tu hành lại nghiêm cẩn, đúng là một nhân vật xuất sắc nhất trong bản tự mà vẫn không được sư phụ đời trước truyền thụ kinh này cho.

Lệnh Hồ Xung nói:

–  “Dịch Cân Kinh” không thể truyền thụ một cách khinh suất. Lời đại sư thật quá rõ ràng! Vãn bối không có phúc duyên, chẳng dám tham cầu.

Phương Chứng lắc đầu đáp:

–  Không phải đâu! Thiếu hiệp là người có duyên.

Lệnh Hồ Xung nghe nhà sư nói vậy không khỏi hồi hộp trong lòng. Chàng không thể ngờ một thiên bí lục của phái Thiếu Lâm đến vị cao tăng như Phương Sinh đại sư còn không được truyền thụ mà mình lại đủ phúc duyên.

Phương Chứng thủng thẳng nói:

–  Cửa Phật bao la chỉ độ người có duyên. Thiếu hiệp là truyền nhân của Phong lão tiên sinh về môn “Độc cô cửu kiếm”, đó là một điều phúc duyên. Thiếu hiệp đến chùa Thiếu Lâm là hai điều phúc duyên. Không luyện “Dịch Cân Kinh” tất phải uổng mạng, đó là ba điều phúc duyên.

Phương Sinh chắp tay nói:

–  Lệnh Hồ thiếu hiệp phúc duyên thâm hậu, bần tăng cũng được an ủi rất nhiều.

Phương Chứng nói:

–  Nhưng trung gian còn có một điều chướng ngại hiện giờ chưa thể bước qua được. Nguyên từ Đạt Ma lão tổ đến nay, “Dịch Cân Kinh” chỉ truyền thụ cho đệ tử bản môn chứ không truyền ra người ngoài. Lão tăng chẳng thể tự mình phá bỏ thể lệ đó. Vì thế mà thiếu hiệp cần phải qui đầu bản tự làm một đệ tử tục gia của phái Thiếu Lâm.

Lão ngừng lại một chút rồi tiếp:

–  Nếu thiếp hiệp không tị hiềm thì làm môn hạ lão tăng tức làm đệ tử vào hàng chữ Quốc và như vậy sẽ đổi tên là Lệnh Hồ Quốc Xung.

Phương Sinh lộ vẻ mừng vui, nói:

–  Cung hỉ thiếu hiệp! Phương trượng sư huynh của bần tăng bình sinh mới thu hai tên đệ tử từ 30 năm về trước. Thiếu hiệp là đệ tử chân truyền của phương trượng sư huynh thì chẳng những được truyền thụ “Dịch Cân Kinh” mà còn 12 môn tuyệt nghệ của phái Thiếu Lâm, sư huynh sẽ tùy tài truyền thụ thêm cho. Khi ấy thiếu hiệp nhất định sẽ làm cho bản môn thêm phần rạng rỡ. Trong võ lâm nảy một bông hoa lạ.

Lệnh Hồ Xung đứng dậy, nói:

–  Mỹ ý của Phương trượng đại sư khiến vãn bối cảm kích vô cùng! Nhưng vãn bối là đệ tử phái Hoa Sơn, không tiện cải đầu phái khác.

Phương Chứng tủm tỉm cười nói:

–  Thiếu hiệp! Hiện thời thiếu hiệp không phải là đệ tử phái Hoa Sơn nữa.

Rồi Phương Chứng rút ra phong thư của Nhạc Bất Quần, chưởng môn phái Hoa Sơn, thông báo cho đại sư phái Thiếu Lâm biết là mình đã trục xuất Lệnh Hồ Xung ra khỏi môn trường.

Phương Chứng nói:

–  Nay chắc chưởng môn các chính phái đều đã tiếp nhận được thơ của tôn sư và truyền thụ xuống cho môn hạ rồi. Dù thiếu hiệp mình không bị thương thì ra khỏi cửa chùa này cũng gặp toàn bước chông gai nguy hiểm trên chốn giang hồ, vì hết thảy đệ tử các chính phái đều coi thiếu hiệp là kẻ địch.

Lệnh Hồ Xung chưng hửng. Chàng nhớ tới khi ở bên khe suối Doanh Doanh đã nói câu này.

Hiện nay chẳng những bọn bàng môn tả đạo đều muốn giết chàng mà cả môn hạ các chính phái cũng coi chàng là thù nghịch. Trời đất bao la bát ngát mà chàng tưởng chừng không còn chỗ dung thân cho mình.

Phương Chứng thủng thẳng nói:

–  Bể khổ bao la, quay đầu lại là đến bờ. Dù gian nhân phạm tội thập ác mà biết hồi tâm hối lỗi, cửa Phật cũng không hẹp gì, vẫn mở rộng đón tiếp. Thiếu hiệp hãy còn nhỏ tuổi, nhất thời lỡ bước sảy chân, vô tình kết giao phỉ đồ, chẳng lẽ lại không còn đường sám hối? Mối liên quan giữa thiếu hiệp và phái Hoa Sơn nay bị chặt đứt. Từ đây thiếu hiệp làm môn hạ phái Thiếu Lâm, sửa đổi lỗi lầm, xây dựng lại cuộc đời, thì người võ lâm chắc cũng chẳng ai làm khó dễ gì cho thiếu hiệp.

Phương Chứng chỉ nói mấy câu hời hợt song thực ra nghiêm nghị vô cùng.

Lệnh Hồ Xung nghĩ tới lúc này không còn đường mà đi, nếu chịu giữ thân làm môn hạ phái Thiếu Lâm thì chẳng những học được nội công thần diệu, vãn hồi được sinh mạng mà uy danh phái Thiếu Lâm trên chốn giang hồ khiến cho bất luận ai cũng không dám gây sự với đệ tử Phương Chứng đại sư.

Nhưng ngay lúc ấy chí khí quật cường trong lòng chàng lại nổi lên. Chàng lẩm bẩm: “Bậc đại trượng phu không thể ngang nhiên tự lập trong trời đất phải mặt dạn mày dầy nương tựa vào phái khác để cầu an thì còn chi là anh hùng hảo hán? Muôn ngàn người trên chốn giang hồ muốn giết ta thì cứ để họ giết đi. Sư phụ ghét bỏ ta đuổi ra khỏi phái Hoa Sơn, ta cứ đơn thương độc mã mà đi chứ có cần gì?”

Chàng nghĩ tới đây bất giác bầu nhiệt huyết trồi lên, khát nước khô cổ, chàng lại muốn uống vài chục bát rượu nóng. Bất luận sống chết chi chi hay sống chết gì gì chàng cũng gác ra một bên không thèm nghĩ tới. Chỉ trong khoảnh khắc, cả con người mà lòng chàng lúc nào cũng tâm niệm, là Nhạc Linh San, cũng biến thành người dưng nước lã.

Lệnh Hồ Xung đứng lên, quì xuống trước mặt Phương Chứng và Phương Sinh kính cẩn dập đầu lạy mấy lạy.

Hai nhà sư cho là chàng đã quyết ý qui đầu phái Thiếu Lâm, nên đều lộ vẻ hớn hở tươi cười.

Lệnh Hồ Xung đứng lên dõng dạc đáp:

–  Vãn bối không được sư môn dong tình thì cũng chẳng còn mặt mũi nào cải đầu phái khác. Tấm lòng từ bi của hai vị đại sư, vãn bối cảm kích vô cùng. Bây giờ xin bái biệt.

Phương Chứng không khỏi ngạc nhiên. Lão không ngờ Lệnh Hồ Xung là một chàng thiếu niên quật cường bất úy tử đến thế.

Phương Sinh nói:

–  Thiếu hiệp ơi! Việc này có liên quan đến sự sống chết của thiếu hiệp là một việc lớn. Thiếu hiệp chớ nên hành động khí khái.

Lệnh Hồ Xung cười khành khạch trở gót đi ra cửa phòng. Lòng chàng đầy nỗi bất bình, chân đi lại càng mau lẹ. Chàng rảo bước đi ra khỏi chùa Thiếu Lâm. Các đệ tử vừa tăng vừa tục trong chùa thấy vậy đều không khỏi ngạc nhiên, nhưng cũng không ngăn trở.

Trích Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung

Một cách xử sự

Ông Thomas là một chủ nông trại giàu có. Ông và vợ mình đối xử rất thân thiện với mọi người nên ai cũng yêu mến họ cả.

Một hôm ông thấy vợ mình sai người giúp việc đến cuối làng, nhà bà John – một tá điền của ông – để mượn một cái bào rau củ. Sau khi người này đi khỏi, ông nói:

–  Anh không nghĩ rằng nhà ta lại không có một cái bào hay không đủ khả năng mua mà em lại sai người đi mượn cho thêm phiền phức như thế.

Bà Thomas từ tốn trả lời:

–  Đây, anh xem, cái bào của nhà ta vẫn còn rất tốt. Em biết mọi người ở vùng này đều yêu quí chúng ta vì chúng ta đem lại nhiều vật chất cho họ hơn các ông chủ khác; nhưng em không muốn như vậy. Em muốn được yêu mến bằng một thứ tình cảm cao hơn, tình làng xóm. Mà điều đó chỉ có thể khi nào chúng ta và họ không có khoảng cách giữa chủ và tớ, giữa giàu và nghèo. Như vậy chuyện cái bào rau củ chỉ là cái cớ để anh và em đến gần với mọi người hơn mà thôi.

Điền Bá Quang

Lâm Hậu đột nhiên trỏ vào đám đông lớn tiếng:

–  Hắn… hắn… cũng như bọn này. Lệnh Hồ Xung kết bạn với bọn này…

Mọi người ngó theo ngón tay gã trỏ thì thấy hắn trỏ vào một người thân thể cao lớn. Chính là Vạn lý độc hành Điền Bá Quang.

Mọi người ai cũng biết tiếng ác gã này đồn đại khắp giang hồ và là một tên đại đạo hái hoa.

Lâm Hậu lớn tiếng hỏi:

–  Điền Bá Quang! Ngươi đến núi Hằng Sơn làm chi?

Điền Bá Quang đáp:

–  Tại hạ đến bái sư.

Lâm Hậu lấy làm kỳ hỏi:

–  Bái sư ư?

Điền Bá Quang đáp:

–  Đúng thế!

Đoạn gã chạy đến trước mặt Nghi Lâm hô lên:

–  Thưa sư phụ! Đệ tử Điền Bá Quang xin vấn an sư phụ!

Nghi Lâm thẹn quá mặt đỏ bừng lên, nghiêng mình né tránh ấp úng:

–  Ngươi… ngươi…

Quần hào thấy Điền Bá Quang đường đường một đại hán tử mà lại dập đầu trước một vị tiểu cô nương xinh đẹp văn nhã thì rất lấy làm kỳ, không sao hiểu được. Vụ này chỉ có Lệnh Hồ Xung biết mà thôi. Nhưng chàng lúc đó cũng tưởng nói đùa một câu, ai ngờ hắn lại cho là thực. Gã lại còn dập đầu lạy Nghi Lâm hô câu “sư phụ” mới thật tức cười.

Doanh Doanh cười nói:

–  Điền sư phó có lòng cải tà quy chánh, quy đầu minh sư thư thế thì còn gì hay bằng! Phương Chứng đại sư! Kẻ có tội buông lưỡi dao đồ tể có thể thành Phật. Con người biết hối lỗi quay về điều thiện, Đức Bồ Tát mở đường bạt độ cho y. Có phải vậy không?

Phương Chứng cả mừng, đáp:

–  Đúng thế! Điền sư phó quy đầu phái Hằng Sơn, từ nay nghiêm thủ thanh quy. Thật là một điều hạnh phúc cho võ lâm.

Doanh Doanh lớn tiếng hô:

–  Chúng vị hãy nghe đây! Bữa nay chúng ta tới đây để quy đầu phái Hằng Sơn. Chỉ mong Lệnh Hồ chưởng môn chịu thu nạp là chúng ta thành đệ tử phái Hằng Sơn cả. A Di Đà Phật! Đệ tử phái Hằng Sơn đâu phải loại yêu tà!

Lệnh Hồ Xung giật mình tỉnh ngộ:

–  Té ra Doanh Doanh đã liệu trước ta lên làm chưởng môn phái Hằng Sơn tất gặp nhiều điều khó khăn trở ngại, nên nàng kêu mọi người quy đầu phái Hằng Sơn.

Trích Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung

Đức Phật và đồng tiền xu

Một ngày, sau chuyến đi đây đó nhiều nơi để giảng đạo, Đức Phật trở về chốn xưa và gặp lại những đệ tử mà Ngài đã truyền dạy lúc trước. Các đệ tử này trình bày cho Ngài nghe họ đã đạt được những tiến bộ nào trong khi Ngài đi vắng.

Một đệ tử cho biết, nhờ công phu tu hành khổ cực trong nhiều năm, anh ta có thể đi trên mặt nước.

Nghe thế, Đức Phật phán:

–  Công phu tu hành của đệ tử như thế đáng giá chỉ bằng một đồng tiền xu mà thôi, vì với đồng tiền xu đó đệ tử có thể trao cho người chèo đò để đưa đệ tử sang sông.

Viết lại theo Giáo sư Y khoa Trần Ngọc Ninh

Ừ hứ!

Thiền sư Hakuin rất được mọi người trọng vọng kính nể vì phong cách đạo đức thánh thiện của ông.

Một ngày kia, có một người con gái trẻ đẹp, nhà gần chùa của thiền sư, bỗng chửa hoang. Người ta không biết cha đứa bé là ai. Bố mẹ cô gái vô cùng tức giận và xấu hổ, nên đánh đập tra khảo cô con gái về lai lịch tình nhân của cô. Ban đầu cô con gái không chịu nói gì cả, nhưng sau cùng vì bị đánh đập dữ dội, cô tiết lộ đó là thiền sư Hakuin.

Tin xấu đồn ra nhanh chóng. Cha mẹ cô gái giận dữ, đùng đùng lên chùa và mắng xối xả vào mặt Hakuin. Khi họ dứt lời, Hakuin trả lời một cách nhẹ nhàng: “Ừ hứ!”

Sau khi đứa bé chào đời, gia đình cô gái mang đứa bé giao cho Hakuin nuôi. Vào lúc này, uy tín Hakuin đã bị hạ thấp và nhiều người chê bai trách móc ông đủ điều, nhưng ông vẫn điềm tĩnh. Ông chăm sóc đứa bé thật tử tế và bồng nó đi xin sữa khắp nơi.

Một năm sau, cô gái vì cảm thấy ray rứt hối hận nên thú thực với cha mẹ là người cha đứa bé không phải là Hakuin, mà là một chàng thanh niên làm việc ở chợ cá. Cha mẹ cô ta vội chạy lên chùa dập đầu tạ lỗi với Hakuin và xin mang đứa bé về.

Thiền sư Hakuin trả lời một cách nhẹ nhàng: “Ừ hứ!”

(Tác giả: Osho – Dịch giả: Thích Nữ Minh Tâm)

Tôi chỉ muốn bù đắp cho ông

Câu chuyện ngắn dưới đây được viết lại dựa theo một sự kiện có thật. Tác phẩm khi được giới thiệu ra công chúng lần đầu tiên đã làm xúc động hàng triệu trái tim độc giả…

Cô y tá bước vào phòng bệnh với gương mặt lo âu, hồi hộp, xen lẫn chút mệt mỏi, theo sau là anh lính Hải quân điềm đạm với những nét khắc khổ trên khuôn mặt. Hai người lặng lẽ tiến lại gần người đàn ông đang nằm bất động trên giường bệnh. Cô gái thủ thỉ vào tai ông: “Bác kính yêu, con trai bác đến rồi đây!”

Người đàn ông không có phản ứng gì. Có vẻ những liều thuốc an thần “nặng kí” để giảm những cơn đau tim quằn quại đã khiến ông chìm vào giấc ngủ mê mệt… Cô y tá phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần ông mới nặng nề mở được đôi mắt vốn đã mờ đi vì bệnh tật. Những cơn đau tim dữ dội khiến cơ thể ông không còn một chút sức lực. Ông yếu ớt nhìn anh lính cạnh giường mình, rồi nắm lấy tay anh…

Anh lính Hải quân vội vàng nâng đôi tay xanh xao gầy guộc của ông lão lên rồi nắm chặt, như thể muốn truyền cả tình yêu và lòng dũng cảm của anh sang cho ông lão. Ông chỉ nhìn anh run run mà không thể nói gì. Cô y tá biết cuộc hội ngộ này có ý nghĩa thế nào với ông lão và sẽ rất lâu để hai người có thể giãi bày hết tâm tư, nên cô lặng lẽ mang đến cho anh một chiếc ghế, đặt cạnh giường.

Suốt đêm ấy, anh lính cứ nắm lấy tay ông lão chẳng rời. Anh kể cho ông nghe những câu chuyện “sinh tử” khi làm nhiệm vụ. Có một lần anh suýt chết đuối. Hôm ấy biển động dữ dội, trời mưa rét, gió lạnh căm căm, hạm đội của anh phải đi tuần tra thăm dò một vùng biển được cho là bị phục kích. Thời tiết khắc nghiệt khiến tầm nhìn cả đoàn tàu bị hạn chế. Anh là đội trưởng, phải có trách nhiệm hướng dẫn cả đoàn. Trong lúc mải mê quan sát, cơn bão to dữ dội xô anh ngã khỏi tàu. Ai nấy đều hốt hoảng nhìn anh vùng vẫy trong cơn sóng to, rồi dần dần chìm xuống.

“Cha biết không? Lúc ấy, con tưởng cuộc đời mình chuẩn bị kết thúc rồi. Nước xộc vào mũi, cả cơ thể bị bao vây bởi nước, ngực nặng trĩu… Con tự hỏi, chết bây giờ thì có hối tiếc không?… Con chẳng nghĩ được nhiều nhưng thấy trái tim mình bình yên đến lạ… Con nghĩ đến Chúa và tấm lòng từ bi của Ngài… Nếu lên thiên đường, con chắc chắn sẽ không hối hận…”

Anh nghẹn ngào tiếp lời: “…và thế là, một phép lạ xảy ra… Con thấy cơ thể mình nhẹ nhàng từ từ nổi lên trên khỏi những cơn sóng, đồng đội con lúc ấy cũng kịp hoàn hồn dùng dây thả xuống để con bám mà kéo lên… Con được cứu sống một cách kì diệu như vậy đấy…!”

Anh bảo chính tình yêu cuộc sống và sức mạnh của niềm tin vào đấng tối cao đã giúp anh vượt qua những tình huống khó khăn, hiểm nghèo. Anh muốn ông hãy mạnh mẽ như cái cách anh đã làm để bảo vệ Tổ quốc. Khi tình thương chiến thắng nỗi sợ hãi, sẽ không có chỗ cho khổ đau và bi kịch.

Rồi anh cũng kể về một mối tình đẹp đẽ nhưng không thành. Ngày ấy, khi anh chuẩn bị cầu hôn người đã chia ngọt sẻ bùi với anh suốt thời niên thiếu, thì nhận được tin anh phải đi đến Iraq tham chiến. Anh đã cảm thấy rất đau khổ và bế tắc khi bỏ lại người con gái anh yêu thương nhất. Nhưng giữa đất nước và tình yêu, anh chọn đất nước. Vì anh nghĩ rằng, nếu đất nước yên bình, người anh yêu cũng vì thế mà an vui. Anh khuyên cô hãy tìm một người đàn ông khác có thể chăm lo thật tốt cho cô, đừng đợi anh để rồi thất vọng. Vì anh chẳng biết đến ngày nào mình mới có thể về… Cũng không biết liệu mình có thể về được không. Nhưng anh không muốn kìm hãm sự tự do của người mà anh yêu.

Ông lão chẳng nói được gì, chỉ thỉnh thoảng gắng gượng nở một nụ cười mãn nguyện. Anh thấy cả những giọt nước mắt lăn dài trên má ông…

…Thấy trời đã khuya, cô y tá dịu dàng bước lại rồi bảo anh: “Anh nên nghỉ ngơi một chút, đã sang ngày mới rồi!” Anh mỉm cười từ chối: “Cô hãy đi nghỉ đi, tôi muốn ở lại đây thêm một lúc nữa…”

Cô y tá ngập ngừng đáp lại: “Vậy tôi muốn ngồi lại đây với anh một lát”.

Rồi cô bắt đầu nói với anh, trước khi ông lão bị những cơn đau tim quái ác dày vò, ông hay kể với cô về con trai. Ông rất yêu đứa con này và luôn tự hào về anh. Ông nói anh rất dũng cảm và có một trái tim quảng đại. Ngày bé anh nghịch lắm, lúc nào cũng chỉ chăm chăm tìm vật dụng để hóa thân thành những anh hùng. Anh có đam mê với biển cả và những con tàu. Anh muốn sau này lớn lên sẽ trở thành một lính Hải quân, bảo vệ Tổ Quốc. Mỗi lần nhắc đến anh, hiện trong mắt ông lão đều là một sự hân hoan khó tả. Ông bảo anh đã xa ông từ rất lâu rồi. Ông chỉ ước một ngày được gặp lại con trai… Và thật may mắn khi anh đã có mặt ở đây…

Anh lính trẻ không nói gì, chỉ cúi xuống hôn lên trán người đàn ông đã thiếp đi lúc nào không hay… Và anh cứ ngồi túc trực bên ông như thế, mãi cho đến khi bình minh ló rạng…

Sáng hôm sau, khi sát lại gần đánh thức ông, anh mới hay ông lão đã trút hơi thở cuối cùng… Lúc ấy, anh mới buông tay ông ra và gọi y tá…

Sau khi bình tĩnh lại, anh lính trẻ quay sang nói với cô y tá: “Tôi muốn cho cô biết một sự thật…”

Cô y tá chỉ tròn xoe mắt: “Là sự thật gì vậy?”

“Tôi không phải con trai của ông ấy…Tôi chưa gặp ông bao giờ cả…”

Cô y tá đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cô hỏi anh nếu ông lão không phải cha anh vậy tại sao anh lại ở đó suốt đêm và trò chuyện với ông lão.

Anh mỉm cười hiền từ: “Cô biết đấy… ông lão đang rất cần tình yêu của một đứa con trai. Tôi chỉ muốn bù đắp cho ông bằng tấm lòng của mình… Ông ấy già rồi, mà vẫn chưa một lần được gặp lại con mình…Và… tôi cũng mất cha từ khi còn rất bé, lâu rồi tôi không có ai để chia sẻ nhiều như thế…”.

Cô y tá không nén nổi xúc động, thắc mắc điều kì diệu gì đã mang anh đến đây. Anh nói đó là một sự tình cờ ngẫu nhiên. Anh đến bệnh viện tìm ông William Grey nào đó để báo tin con ông đã hy sinh ở Iraq, nhưng duyên phận đã khiến anh có mặt tại căn phòng này…

Cô y tá nhìn anh run run: “Người đàn ông mà anh đã ở cạnh suốt đêm chính là William Grey…”

Án Tử ứng đối

Án Tử sắp sang nước Sở, vua Sở nghe thấy bảo cận thần rằng:

–  Án Tử là một tay ăn nói giỏi nước Tề, nay sắp sang đây, ta muốn làm nhục, có cách gì không?

Cận thần thưa:

–  Đợi bao giờ Án Tử sang, chúng tôi xin trói một người, dẫn đến trước mặt nhà vua để giả làm người nước Tề bị buộc tội ăn trộm.

Lúc Án Tử đến nơi, vua Sở làm tiệc thiết đãi tử tế. Rượu uống ngà ngà, bỗng thấy hai tên lính điệu một người bị trói vào.

Vua hỏi:

–  Tên kia tội gì mà phải trói thế?

Lính thưa:

–  Tên ấy là người nước Tề phải tội ăn trộm.

Vua đưa mắt nhìn Án Tử hỏi rằng:

–  Người nước Tề hay trộm cắp lắm nhỉ?

Án Tử đứng dậy thưa rằng:

–  Chúng tôi trộm nghe cây quýt mọc ở đất Hoài Nam thì là quýt ngọt, đem sang trồng ở đất Hoài Bắc thì hóa quýt chua. Cành lá giống nhau mà quả chua, quả ngọt khác nhau là tại làm sao? Tại thủy thổ khác nhau vậy. Nay dân sinh trưởng ở nước Tề thì không ăn trộm, sang ở nước Sở thì sinh trộm cắp. Có lẽ cũng tại vì cái thủy thổ khác nhau nó khiến ra như thế chăng?

Người thợ xây nhà

Có một người thợ xây nhà, làm công lâu năm rất chuyên cần cho một chủ thầu. Đến một ngày, ông ngỏ ý từ giã chủ thầu để nghỉ ngơi, vui hưởng tuổi già.

Ông chủ thầu luyến tiếc sẽ thiếu đi một người thợ giỏi, nài nỉ người thợ tiếp tục làm việc cho mình nhưng vẫn không được. Cuối cùng, ông yêu cầu người thợ xây một căn nhà cuối cùng trước khi từ giã.

Người thợ nhận lời. Vì biết mình sẽ giải nghệ, cùng với sự miễn cưỡng, ông chỉ làm việc một cách sơ sài, sử dụng vật liệu tầm thường, không áp dụng kỹ năng tinh xảo như thường ngày, chỉ mong hoàn thành ngôi nhà càng nhanh càng tốt. Vì thế, ngôi nhà có giá trị kém hẳn so với những gì người thợ đã từng xây, tuy bề ngoài người kém hiểu biết chuyên môn sẽ không nhận ra.

Trong thời gian ngắn hơn những công trình trước đó, căn nhà hoàn tất. Ông chủ đi đến, xem xét qua loa, rồi đưa cho người thợ chiếc chìa khóa của ngôi nhà. Ông tỏ ý là vì người thợ đã tận tụy với ông trong nhiều năm, nay ông xin biếu một ngôi nhà mới cho người thợ để gọi là sự tưởng thưởng.

Thế là người thợ phải sống trong căn nhà kém cỏi về mọi mặt, mà tất cả đều do bàn tay của ông tạo nên từ ý nghĩ của ông.

Ðúng và sai

Khi Bankei mở an cư kiết hạ, môn đồ khắp nước Nhật qui tụ về đông đảo. Trong một lần như thế, một đệ tử bị bắt gặp đang ăn cắp. Sự việc được trình lên Bankei với đòi hỏi kẻ phạm tội phải bị trục xuất. Nhưng Bankei bỏ qua.

Ít lâu sau người đệ tử ấy lại bị bắt quả tang trong một trường hợp tương tự, và một lần nữa Bankei lại bỏ qua. Việc này làm những môn đồ khác bất bình, họ liền làm một thỉnh nguyện thư đòi trục xuất tên ăn cắp, nếu không họ sẽ cùng nhau rời khỏi thiền viện.

Sau khi xem xong thỉnh nguyện, Bankei triệu tất cả môn đồ lại, nói: “Các vị là những huynh đệ sáng suốt. Các vị biết thế nào là đúng và thế nào là không đúng. Các vị có thể tìm nơi khác vừa ý để tu học, nhưng vị sư đệ này lại không biết đâu là điều đúng và sai. Ngoài ta ra, ai là người chịu nhận dạy bảo ông ấy? Ta sẽ giữ ông ấy lại đây cho dù các vị có bỏ đi.”

Một suối lệ đầm đìa rửa sạch mặt vị đệ tử ăn cắp. Từ đấy mọi tham vọng lấy cắp đều biến mất.

Không rượu mà say

Vào một buổi chiều tĩnh mịch, Đức Phật bỗng nghe tiếng đập cửa thình thịch và tiếng khè khè của một gã say rượu, thừa lúc cổng mở đã lẻn vào tịnh xá. Hắn vừa đập cửa vừa gọi:

–  Ông Phật ơi, ông Phật! Cho tui làm Phật với! Tui cũng muốn… làm Phật! Khà khà! Bộ chỉ mình ông làm được Phật mà thôi à? Hả?

Đức Phật ngồi dậy ra mở chốt. Thấy gã say dơ dáy, y phục tả tơi, Ngài gọi thị giả A Nan:

–  Này A Nan, ông tắm rửa, cạo tóc và vận cho ông ấy một bộ y sạch. Rồi tìm chỗ cho ông ấy nằm nghỉ.

A Nan vâng lệnh. Sau khi tắm rửa sạch sẽ, cạo tóc đắp y, gã say được đưa đến một gốc cây im mát trong tịnh xá. Gã đánh một giấc ngon lành cho đến sáng hôm sau. Khi tỉnh dậy, hắn bỡ ngỡ nhìn quanh thấy toàn thầy tu mặc áo vàng đi bách bộ, dòm lại mình cũng đang đắp y, sờ đầu nghe trụi lũi, hắn kinh hoàng không biết mình là ai, vội vàng bỏ chạy một mạch ra tới cổng. Các tỳ kheo đuổi theo bắt lại. Nhưng một số biết chuyện, ngăn bạn:

–  Này, chư hiền, để cho hắn chạy. Hắn chỉ là một gã say, hôm qua Đức Thế tôn bảo Tôn giả A Nan tắm rửa cạo tóc đắp y vào cho hắn đấy.

–  Thật thế sao? Tại sao Đức Thế tôn làm chuyện lạ nhỉ? Biết hắn say mà vẫn độ cho hắn xuất gia?

–  Hãy để hắn đi cho khuất, rồi chúng ta sẽ đến thỉnh giáo Đức Thế tôn về việc này.

Thế là họ kéo nhau đến hương thất Đức Phật, bạch hỏi:

–  Bạch Đức Thế tôn, chúng con không hiểu vì nguyên nhân gì Ngài lại độ cho một gã say như thế? Xin đấng Thiện Tuệ giải rõ cho chúng con.

–  Này các tỳ kheo, các ông dường như trách ta vì đã độ cho một gã say. Nhưng ta hỏi các ông, trong lúc hắn say, tại sao không cầu chuyện gì khác, mà lại cầu làm Phật? Như thế là hắn đã gieo một cái nhân tốt đẹp, ta phải giúp duyên cho hắn, vì ta không hẹp gì mà không cho hắn làm Phật. Vả lại, có bao nhiêu người “tỉnh” biết cầu Phật như hắn? Vậy thì ai tỉnh ai say? Huống chi hắn chỉ nhậu rượu vào mà say vài tiếng đồng hồ rồi tỉnh lại. Cho nên, cái tật say của hắn, ta không cho là trầm trọng. Trái lại, biết bao kẻ trên thế gian này, dù không uống rượu mà vẫn say, không phải say vài tiếng đồng hồ như hắn, mà say suốt kiếp chưa tỉnh. Cái bệnh say đó, say trong vô minh ái dục, ta mới gọi là một chứng bệnh trầm kha!

(Thuật theo chuyện kể của H.T. Trí Nghiêm)

Chú Tư Ðức câu sấu

Vừa bước lên bờ, chú Tư Ðức liền gặp ông kiểm lâm Rốp. Ông ôm chú và thằng bé nọ vào lòng rồi nói tíu tít:

–  Giỏi quá! Chú Tư giỏi quá! Thằng nhỏ gan quá! Nó bị bịnh rét mà còn mạnh quá! Tôi mời hai cha con vô đồn.

Miệng nói, tay của ông thoa bóp lia lịa dùm chú Tư:

–  Hết sức giỏi! Người “An Nam” hết sức giỏi! Chú Tư câu được bao nhiêu sấu rồi? Học nghề với ai vậy?

Chú Tư nói:

–  Dạ, nghiệp của ông bà truyền lại. Bây giờ con cháu noi theo.

Ông Rốp gật đầu:

–  Phải! Bữa nào chú nói kỹ lại cách thức câu sấu để tôi viết thành cuốn sách, gởi về bên Tây cho mẹ tôi được biết. Rồi chú ráng câu con sấu còn lại. Chừng đó tôi đi theo, đứng trên cái thang đánh mõ thử một lần.

Chú Tư suy nghĩ:

–  Không được đâu!

–  Con sấu kia lợi hại lắm. Phải trừ cho hết. Tôi đọc trong sách thấy rằng loại sấu lớn thường ở nơi yên tịnh, luôn luôn đi hai con đực và cái.

–  Ông lớn nói đúng. Nhưng mình giết một con đủ rồi, giết hết mình có tội với Trời Ðất.

–  Tội gì vậy, chú Tư?

–  Tội sát sanh. Ðể con còn lại cho nó đi tu. Ðạo Phật của ông bà có nói lại như vậy đó.

Ông Rốp mãi suy nghĩ, vuốt râu:

–  Dân “An Nam” giỏi quá, hiền từ quá! Chú Tư họ gì, mấy tuổi? Ðể tôi chạy tờ về quan Tham biện chủ tỉnh xuất số tiền về thưởng công lao cho chú. Chú muốn làm lính kiểm lâm không? Tôi cho chú làm chức “bếp”, ăn lương mỗi tháng mười lăm đồng bạc.

Chú Tư Ðức cười:

–  Vì đất nước chớ đâu phải vì danh vì lợi. Sách có chữ: “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng.” [Thấy việc nghĩa không làm thì không phải là dũng, thấy người bị nguy không cứu thì không phải là hùng. (BT)] Công việc của tôi đã làm tròn. Tôi ao ước hương chức làng mình cất một cái miễu lá, thờ cái đầu con sấu nọ. Bất luận là sấu hay cọp, hễ nó hại mình thì mình giết. Hễ giết được rồi, mình nên thờ…

–  Chi vậy?

–  Ðể tỏ rằng mình sợ nó nhưng mà cũng… không sợ nó. Phải để cho nó tu tâm dưỡng tánh trong kiếp sau. Tôi không ưa sát sanh. Tôi muốn làm nghề khác.

–  Nghề gì?

–  Nghề đốn củi. Chừng hết củi thì đào kinh, làm ruộng. Phen này tôi mừng vì cứu được vong hồn mấy người đã bị sấu ăn thịt. Theo lời tục truyền: họ thành cô hồn, sống vất vưởng trên lưng sấu. Lần lần cô hồn nọ bị sấu mê hoặc nên dẫn đường dắt nẻo cho sấu đi sát hại kẻ đồng loại. Bây giờ sấu chết, bao nhiêu cô hồn đã thảnh thơi, có thể tự do đi đầu thai trở thành người lương thiện.

Ông Rốp trầm ngâm suy nghĩ. Ông dè đâu người đốn củi lậu nọ có tài, có đức, biết thương người, thương cuộc đời đến mức ấy.

(Trích Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam)

Phải biết vâng lời mẹ

Xưa, có một người con trai ngỗ nghịch, lúc nào cũng làm trái ý bà mẹ; bà bảo anh ta làm gì thì anh ta đều làm ngược lại. Bà mẹ buồn rầu, than thở mãi, nhưng không biết làm gì được.

Đến một ngày, bị bệnh nặng quá, bà mẹ biết mình sắp qua đời. Hiểu rõ tính nết con, nghĩ rằng có nói gì thì anh ta sẽ làm ngược lại, nếu bảo anh ta chôn cất mẹ tử tế thì anh sẽ không làm, nên bà nghĩ ra một ý mà bà cho là hay. Bà trối trăn với con: “Sau khi mẹ qua đời, con cứ lấy một manh chiếu bó xác mẹ lại rồi ném xuống sông, không cần phải chôn cất mẹ cho tử tế gì cả.” Bà nhấn mạnh ý “không cần…” để mong nó sẽ làm theo ý này.

Đứa con trai thấy mẹ sắp qua đời, bồi hồi suy nghĩ: “Bấy lâu nay mình cứ luôn cãi lời mẹ. Con cái người ta đều chôn cất cha mẹ họ đàng hoàng, nhưng bây giờ ít ra là lần cuối trong đời, mẹ mình muốn làm khác, mình phải biết vâng lời.”

Thế nên, anh ta hối hận, hứa sẽ vâng lời mẹ.

Nghe anh hứa nghiêm chỉnh, bà mẹ mừng quá, nghĩ rằng rồi cũng như bao lần trước, anh hứa xong đều làm ngược lại, nên bà an tâm nhắm mắt.

Người con đau khổ thương xót mẹ mình vô cùng, thế là làm đúng như lời mẹ dặn trước khi lâm chung: lấy một tấm chiếu bó xác bà rồi ném xuống sông.

(Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Bích Mỹ)

Kisagotami

Kisagotami là một thiếu phụ còn trẻ, vừa mất một đứa con chưa đầy một tuổi. Trong cơn đau khổ cùng cực, cô cứ ôm chặt xác đứa con trong lòng và đi khắp nơi, tin rằng sẽ có một phương thuốc làm con mình sống lại. Dân làng cho rằng có lẽ cô vì quá buồn khổ nên đã hóa điên, họ trốn tránh cô. Có một người thấy vậy thương hại, đến khuyên cô hãy tìm gặp Đức Phật, ngài sẽ giúp cho.

Khi gặp Đức Phật, Kisagotami kể lại tình cảnh của mình và cầu xin Đức Phật làm phép cho đứa con yêu dấu được sống lại.

Ðức Phật từ bi nhìn cô bảo: “Ta biết có một phương cách, nhưng cô phải xin được cho ta một hạt cải từ một căn nhà nào mà trong gia đình chưa từng có người chết. Cô xin được rồi mang về đây, ta sẽ làm cho con của cô sống lại.”

Cô nghe lời Đức Phật, đi vào làng tìm đến mỗi nhà. Nhưng nhà nào cô gõ cửa hỏi cũng đều có người đã qua đời.

Rồi một buổi sáng cô chợt hiểu! Căn nhà mà cô muốn tìm, nó không có thật trên cuộc đời này. Cô đi vào rừng chôn xác đứa con mình và trở lại gặp Đức Phật.

Đàn bà nước mình tham lam

…Cái gì được người ta lặp đi lặp lại nhiều lần bằng câu hát đưa em? Vậy mà có người không hiểu rõ. Thí dụ như:
Một mai thiếp có xa chàng
Ðôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.

Tại sao đôi bông thiếp trả, đôi vàng thì xin? Không lẽ người đàn bà nước mình mang thói tham lam? Sự thiệt nó có tích như vầy: đôi bông là vật cha mẹ chồng cho nàng dâu hồi đám nói; đôi vàng là của riêng mà hai vợ chồng trẻ nhờ dành dụm sắm được lúc sau. Nàng dâu than vãn bà mẹ chồng khắc nghiệt, sẵn sàng “trả đôi bông” lại cho mẹ chồng. Nhưng nàng vẫn thương chồng – “xin giữ đôi vàng” – nài nỉ chồng cất nhà ở riêng để thoát ách.

Câu hát đó cao sâu lắm! Hồi xưa, khách qua đường hễ nghe nó là hiểu được tánh tình của bà mẹ chồng trong nhà như thế nào. Bởi vậy người hát phải biết hát, người nghe phải biết nghe…

(Trích Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam)

Một câu chuyện lứa đôi

Chàng và nàng rất trẻ, họ mới lấy nhau được 2 năm. Chàng vốn theo nghề chụp hình, nhưng say mê văn chương. Ngày lại ngày chàng cặm cụi viết sách, tuy rằng sách của chàng nằm dưới lớp bụi trên kệ ở các cửa hàng sách. Chàng rất yêu và chiều theo ý nàng. Thế rồi một ngày nọ…

Nàng bảo chàng: “Anh đi chụp hình đám cưới con bạn em. Nó hứa trả công hậu đấy.”

“Bữa đó anh có hẹn với một nhà xuất bản. Em nói bạn em chịu khó mời người khác.”

Nàng bĩu môi: “Anh bớt viết đi. Có ai đọc văn anh đâu!”

“Rồi một ngày nào đó, người ta sẽ nhìn nhận những gì anh viết.”

Nàng xì một tiếng: “Em chẳng quan tâm tới chuyện đó. Nhưng dứt khoát anh phải chụp hình đám cưới của bạn em.”

Chàng: “Em nghĩ lại đi.”

Cuộc tranh luận của họ chấm dứt với lời tuyên chiến của nàng: “Cho anh 3 ngày để suy nghĩ, nếu không…”

Ngày thứ nhất. Nàng “đình công.” Bếp núc nguội ngắt, tủ lạnh trống trơn. Quần áo dơ nằm chỏng trơ trong phòng tắm. Máy thu hình, máy tính, dàn hifi… bị nàng nhét xuống kho. Để tỏ lòng “nhân từ”, nàng để lại chiếc giường đôi cho cả hai. Chàng vẫn chúi mũi vào những trang giấy viết dở. Trong túi chàng còn một ít tiền.

Ngày thứ nhì. Nàng tiến hành lục soát và chỉ để lại cho chàng cái túi trống rỗng và một mẩu giấy cảnh cáo: “Chớ có dại cầu viện từ bên ngoài, nếu không hậu quả sẽ thê thảm hơn đó!” Quả tình chàng đã lo lắng. Buổi tối, chàng năn nỉ nàng nhưng vô vọng. Nàng muốn chàng phải tuyệt đối tuân theo ý nàng.

Đêm thứ ba. Chàng nằm quay mặt về một phía, nàng ngoảnh mặt nhìn sang phía khác.

Chàng: “Chúng ta cần nói chuyện…”

“Trừ phi là chuyện chụp hình đám cưới…”

Chàng: “Chuyện rất quan trọng.” Nàng im lặng.

Chàng: “Anh đã gặp một cô gái.”

Nàng không tin vào tai mình. Nàng muốn vùng dậy tát cho chàng một cái, nhưng cố nén chờ chàng nói hết. Chàng rút từ trong ngực áo, chỗ trái tim chàng, một tấm hình. Mắt nàng nhòe lệ nghĩ, sao hôm qua mình quên lục chỗ đó nhỉ?

Chàng: “Cô ấy rất nhân hậu.”

Trái tim nàng tan nát khi biết rằng có tấm hình của một người con gái khác ở bên trái tim chàng.

Chàng: “Cô ấy hứa sẽ giúp anh thực hiện ước vọng văn chương.” Nàng giật mình bởi trong quá khứ, chính nàng cũng đã từng hứa như vậy.

Chàng: “Cô ấy rất yêu anh.”

Nàng ngồi bật dậy và quát to: “Bộ em không yêu anh hay sao?”

Chàng: “Anh nghĩ là cô ấy sẽ không ép anh phải làm những điều anh không muốn.”

Nàng giận lắm. Chàng chìa bức hình cho nàng: “Em có muốn biết mặt cô ấy không?”

Nàng hất mạnh tay chàng. Chàng thở dài cất tấm ảnh sau ngực áo. Nàng bật khóc. Chàng tắt đèn nằm xuống. Nàng chong đèn ngồi một mình. Chàng dường như ngủ say thở đều đều. Nàng thao thức. Nàng hối hận vì cách đối xử với chàng. Nàng sẽ không bắt ép chàng phải nhất nhất theo ý mình. Nàng muốn đánh thức chàng và nói với chàng những lời thật âu yếm. Nhìn vào ngực áo chàng, nàng muốn biết cô gái kia ra sao. Nàng nhẹ nhàng đưa tay rút tấm ảnh. Chợt nàng bật cười rồi liền đó òa khóc.

Người trong ảnh không ai khác: chính là nàng.

Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn

Triệu Mẫn xoay xoay nghịch cái chén, một hồi lâu không nói gì, lại cầm bầu rượu lên rót thêm hai chén nữa, chậm rãi nói tiếp:

–  Trương công tử, tôi hỏi anh một câu nhé, anh cứ thực lòng mà trả lời tôi. Nếu như tôi đem Chu cô nương giết đi, anh sẽ đối với tôi thế nào?

Trương Vô Kỵ trong bụng kinh hãi, hỏi lại:

–  Chu cô nương có đắc tội gì với cô đâu, sao bỗng dưng lại giết cô ta là sao?

Triệu Mẫn đáp:

–  Người nào tôi không thích là tôi muốn giết, chứ đâu phải cứ đắc tội với tôi, tôi mới giết đâu? Có người thì đắc tội với tôi nhiều lần, tôi lại để yên không giết, chẳng hạn như anh, đắc tội với tôi mấy lần rồi thì sao?

Nàng nói tới đây, ánh mắt long lanh ẩn một nụ cười.

Trương Vô Kỵ thở dài, nói:

–  Triệu cô nương, tôi đắc tội với cô âu cũng là chuyện bất đắc dĩ. Thế nhưng cô đã tặng cho tôi thuốc để chữa bệnh cho tam sư bá, lục sư thúc tôi, lòng tôi thật là cảm kích.

Triệu Mẫn cười nói:

–  Anh nói câu đó có phần dở hơi. Du Đại Nham và Ân Lê Đình bị thương đều do thuộc hạ của tôi gây ra, anh chẳng trách thì thôi, lại cảm ơn là sao?

Trương Vô Kỵ mỉm cười:

–  Tam sư bá của tôi bị thương đã ngoài hai mươi năm, khi đó cô chưa ra đời.

Triệu Mẫn nói:

–  Thì do bộ thuộc của cha tôi cũng có khác gì là bộ thuộc của tôi? Anh đừng nói lảng qua chuyện khác: tôi hỏi anh, nếu như tôi giết Chu cô nương, anh sẽ đối với tôi như thế nào? Anh có định giết tôi báo thù cho cô ta không?

Trương Vô Kỵ trầm ngâm một hồi rồi nói:

–  Tôi cũng không biết nữa.

Triệu Mẫn hỏi lại:

–  Sao lại không biết? Anh không chịu nói, có phải không nào?

Trương Vô Kỵ nói:

–  Cha mẹ tôi bị người ta bức tử. Bức tử cha mẹ tôi là phái Thiếu Lâm, phái Hoa Sơn, phái Không Động. Sau này khi tôi lớn lên, thấy mọi việc rõ ràng hơn nhiều, nhưng càng suy nghĩ lại càng chẳng hiểu, thực sự ai là người hại cha mẹ tôi? Không thể nói là Không Trí đại sư, Thiết Cầm tiên sinh những người đó được; cũng không thể bảo là ông ngoại tôi hay cậu tôi; thậm chí cũng không thể nói là những thủ hạ của cô như “A Nhị”, “A Tam” hay Huyền Minh nhị lão. Cái lý do nào trời xui đất khiến ra thế, biết bao nhiêu điều tôi không hiểu được. Dẫu như có những người là hung thủ thực chăng nữa, dù tôi có giết hết tất cả thì cũng để làm gì? Cha mẹ tôi có sống lại được đâu! Triệu cô nương, mấy hôm nay tôi chỉ nghĩ rằng nếu tất cả mọi người không giết lẫn nhau, sống hòa bình thân ái làm bạn của nhau chẳng hay hơn ư? Tôi không nghĩ đến chuyện báo thù giết người, cũng mong người khác đừng hại ai giết ai.

Chàng nói một mạch những gì đã nghĩ trong lòng rất lâu, nhưng chưa hề nói cho Dương Tiêu hay, cũng chẳng nói cho Trương Tam Phong biết, cũng không nói cho Ân Lê Đình hay, bỗng nhiên nơi quán rượu nhỏ bé này lại nói cho Triệu Mẫn nghe, những lời đó nói ra rồi chính chàng cũng lấy làm lạ.

Triệu Mẫn thấy chàng nói thật thành khẩn, suy nghĩ một lát rồi nói:

–  Đó là tại anh tâm địa nhân hậu, nếu phải tay tôi ư? Tôi sẽ làm tới nơi tới chốn. Nếu như ai làm hại cha tôi, anh tôi, tôi sẽ giết sạch cả nhà người đó, ngay cả thân thích bằng hữu, phàm người nào y quen biết, tôi sẽ giết sạch không còn một mống.

Trương Vô Kỵ nói:

–  Như thế tôi sẽ ngăn không cho cô làm.

Triệu Mẫn hỏi lại:

–  Vì sao vậy? Anh về phe kẻ thù của tôi ư?

Trương Vô Kỵ đáp:

–  Cô giết một người, bản thân cô sẽ thêm một phần tội nghiệt. Người bị cô giết, chết đi ra sao thì không biết, cái đó cũng đã xong, thế nhưng còn cha mẹ con cái, vợ chồng anh em người ta đau lòng biết mấy? Về sau mỗi khi cô nghĩ lại, lương tâm cô sẽ không an. Nghĩa phụ tôi giết nhiều người lắm, tôi biết tuy ông không nói ra, nhưng trong lòng thật là hối hận.

Triệu Mẫn không đáp, chỉ suy nghĩ về những điều Trương Vô Kỵ vừa nói ra.

(Trích Ỷ thiên Đồ long ký của Kim Dung)

Tạ Tốn và Độ Ách

Tạ Tốn đi đến trước mặt Không Văn, quì xuống nói:

–  Đệ tử tội nghiệt thâm trọng, mong phương trượng cho ở lại, xuống tóc tu hành.

Không Văn chưa kịp trả lời, Độ Ách nói:

–  Ngươi lại đây, lão tăng thu ngươi làm đồ đệ.

Tạ Tốn đáp:

–  Đệ tử không dám mong được phúc duyên như thế.

Ông ta bái Không Văn làm thầy là đệ tử hàng chữ Viên, còn như bái Độ Ách làm thầy là ở vào hàng chữ Không, cùng Không Văn, Không Trí xưng hô huynh đệ.

Độ Ách quát lên:

–  Hừ!
Không đã đành là không,
     Viên cũng lại là không,
     Ngã tướng với nhân tướng,
     Nào có chi bất đồng?

Tạ Tốn ngạc nhiên nhưng lập tức hiểu ngay: sư phụ đệ tử, hàng trên hàng dưới, pháp danh thứ tự đối với nhà Phật cũng đều là huyễn ảo, nên liền đọc ngay:
Sư phụ vốn là không,
     Đệ tử cũng không nốt.
     Không tội, nghiệp sao còn,
     Công đức đâu mà kết?

Độ Ách nghe thế cười ha hả:

–  Thiện tai! Thiện tai! Ngươi vào làm môn hạ của ta, tên ngươi vẫn là Tạ Tốn, ngươi có hiểu chăng?

Tạ Tốn đáp:

–  Đệ tử hiểu rồi!
Tạ Tốn hay cục phân,
     Cũng đều là hư ảnh.
     Đến thân còn chẳng chấp,
     Lẽ nào vướng vào danh?

Tạ Tốn văn võ toàn tài, chư tử bách gia đâu đâu cũng thông suốt, nay được Độ Ách điểm hóa, lập tức hiểu ngay tinh nghĩa nhà Phật, từ đó đi vào cửa không, về sau trở nên một cao tăng đức độ.

(Trích Ỷ thiên Đồ long ký của Kim Dung)

Chết như thế nào?

Một nhà diễn thuyết bắt đầu buổi nói chuyện bằng một câu hỏi: “Nếu phải chết, bạn muốn chọn một cái chết như thế nào: Chết nhẹ nhàng, nhanh chóng hay đau đớn và từ từ?”

Đám đông ồn ào vì câu hỏi kỳ quặc. Ai mà chẳng muốn một cái chết nhẹ nhàng và nhanh chóng, vì vậy mà mọi người đều chọn nó.

Khi mọi người đều đã chắc chắn với quyết định của mình rồi, nhà diễn thuyết mới tiếp tục:

“ Tôi cũng từng chọn giống như các bạn vậy. Cho đến một ngày, khi cha tôi lâm bệnh nặng. Ông phải trải qua những cơn đau khủng khiếp, kéo dài ngày này sang ngày khác. Chúng tôi rất thương yêu ông nhưng cũng không muốn ông phải chịu đau đớn như vậy. Mẹ tôi nói với cha tôi điều đó.

“ Ông nhìn bà hồi lâu rồi nói: Tôi đau lắm chứ, hơn ai hết tôi là người muốn giải thoát cho chính mình khỏi những cơn đau. Nhưng tôi vẫn muốn sống, chỉ để nhìn các con tôi đi làm về chào bố, các cháu tôi chào ông mỗi buổi sáng. Để chúng ôm hôn tôi trước khi đi ngủ. Để mỗi sáng dậy tôi còn được nhìn thấy ánh mặt trời, để nghe tiếng sóng biển từ xa vọng về. Với bà và các con, điều đó thật đơn giản, nhưng với một người như tôi thì thật khó khăn. Tôi không còn thời gian để làm những điều đó nữa. Dù đau đớn nhưng tôi bằng lòng vì tôi có thể mang đi những gì tươi đẹp nhất của cuộc sống mà tôi đã không bao giờ nhận ra…

Anh hùng

Thành Cát Tư Hãn chán nản quay về kim trướng. [Kim trướng có nghĩa lều màu màu vàng của người Mông Cổ. Sử Hoa văn gọi đế quốc rộng lớn của người Mông Cổ vào thời này là Hãn quốc Kim Trướng. (BT)]

Đến xế chiều, y gọi một mình Quách Tĩnh theo đi dạo trên thảo nguyên. Hai người giục ngựa cùng đi, được hơn mười dặm chợt nghe trên đầu có mấy tiếng chim điêu kêu, ngẩng nhìn thấy đôi bạch điêu đang lượn vòng trên không. Thành Cát Tư Hãn giương cung lắp tên nhắm thẳng vào con điêu mái.

Quách Tĩnh hoảng sợ kêu lên:

–  Đại hãn, đừng bắn!

Thành Cát Tư Hãn tuy đã già yếu nhưng ra tay vẫn rất mau lẹ, Quách Tĩnh vừa bật tiếng kêu, mũi tên đã bắn ra.

Quách Tĩnh thầm kêu khổ, y vốn biết Thành Cát Tư Hãn tý lực hơn người, tên bắn không mũi nào sai, phát tên ấy bắn ra, con chim điêu yêu quý ắt phải mất mạng, nào ngờ con điêu mái ngoắt qua tránh khỏi, cánh trái vỗ một cái đập mũi tên rơi xuống đất. Con điêu trống cả giận rít lớn một tiếng lao xuống mổ vào đầu Thành Cát Tư Hãn.

Quách Tĩnh quát:

–  Súc sinh, muốn chết à?

Rồi vung roi đánh con điêu trống. Con điêu trống thấy chủ nhân ra tay bèn vòng lên không, kêu lên mấy tiếng, cùng con điêu mái song song bay đi.

Thành Cát Tư Hãn thần sắc buồn thảm, ném cung tên xuống đất, nói:

–  Mấy mươi năm nay đây là lần đầu tiên ta bắn điêu không trúng, chắc là đúng tới lúc chết rồi.

Quách Tĩnh định an ủi nhưng không biết nói thế nào. Thành Cát Tư Hãn đột nhiên kẹp hai chân một cái thúc ngựa phi mau lên phía bắc. Quách Tĩnh sợ y bị sơ xuất phóng ngựa vượt lên, con tiểu hồng mã lướt đi như gió trong chớp mắt đã vượt qua ngựa y.

Thành Cát Tư Hãn kìm cương nhìn quanh, chợt nói:

–  Tĩnh nhi, đất nước to lớn mà ta dựng nên, xưa nay chưa từng có ai bằng được, từ giữa đất nước đi tới những nơi xa xôi nhất, đông nam tây bắc đều phải đi đường mất một năm. Ngươi nói các anh hùng cổ kim có ai hơn ta không?

Quách Tĩnh trầm ngâm một lúc rồi nói:

–  Đại hãn võ công hơn đời, xưa nay không ai bằng. Chỉ là đại hãn một mình oai phong hiển hách, nhưng thiên hạ lại không biết có bao nhiêu đống xương trắng chồng chất, làm chảy không biết bao nhiêu nước mắt của cô nhi quả phụ.

Thành Cát Tư Hãn trợn mắt lên, giơ roi ngựa muốn đánh lên đầu Quách Tĩnh, nhưng thấy y ngang nhiên không sợ đưa mắt nhìn mình, chiếc roi ngựa vung lên nửa chừng lại buông xuống, quát:

–  Ngươi nói gì?

Quách Tĩnh nghĩ thầm: “Từ nay trở đi chưa chắc đã có dịp gặp lại đại hãn, cho dù khiến y tức giận thì ý nghĩ trong lòng cũng phải nói rõ.”

Lúc ấy ngang nhiên nói:

–  Đại hãn, người nuôi con dạy con, bức tử mẹ con, đó là chuyện ân oán riêng tư, lúc này không cần nói nữa. Con chỉ muốn hỏi người một câu: Sau khi người ta chết, chôn xuống đất rồi thì chiếm hết bao nhiêu đất?

Thành Cát Tư Hãn sửng sốt, ngọn roi khua lên mấy vòng, nói:

–  Cái đó thì chẳng đáng bao nhiêu.

Quách Tĩnh nói:

–  Đúng thế, vậy người giết chết bấy nhiêu người, làm đổ bấy nhiêu máu, chiếm được bấy nhiêu nước, rốt lại dùng để làm gì?

Thành Cát Tư Hãn im lặng không đáp.

Quách Tĩnh lại nói:

–  Xưa nay bậc anh hùng khiến cho đương thời kính ngưỡng, đời sau nhớ tiếc ắt là kẻ tạo phúc cho dân, thương yêu bách tính. Theo con thấy thì giết nhiều người chưa chắc đã đáng gọi là anh hùng.

Thành Cát Tư Hãn nói:

–  Chẳng lẽ suốt đời ta chưa từng làm chuyện gì tốt à?

Quách Tĩnh nói:

–  Chuyện tốt thì tự nhiên là có, nhưng chuyện lớn hơn là người nam chinh tây phạt, xác chết chất thành núi, đâu là công đâu là tội cũng rất khó nói.

Y tính tình thẳng thắn, nghĩ gì nói nấy.

Thành Cát Tư Hãn nhất sinh tự phụ, lần này lại bị y dồn cho một chặp như thế, đã khó biện bác, nghĩ lại chuyện trước, giục ngựa quay đầu, không kìm được chán nản, lát sau ọe một tiếng, phun ra một búng máu tươi.

Quách Tĩnh giật nảy mình, mới biết mình ăn nói nặng lời, vội đưa tay đỡ y, nói:

–  Đại hãn, người về nghỉ ngơi thôi. Con ăn nói có điều mạo phạm, xin người tha tội.

Thành Cát Tư Hãn cười nhạt một tiếng, khuôn mặt trắng bệch như sáp, thở dài nói:

–  Tả hữu của ta không ai to gan bằng ngươi, dám nói mấy câu thật lòng với ta.

Rồi lập tức nhướng mày, trên mặt hiện vẻ ngạo nghễ, cao giọng nói:

–  Ta nhất sinh tung hoành thiên hạ, diệt quốc vô số mà ngươi lại nói không phải là anh hùng à? Hà, đúng là lời trẻ con!

Vung roi đánh mạnh con ngựa một cái, phi mau trở về.

Đêm ấy Thành Cát Tư Hãn băng trong kim trướng, lúc lâm tử vẫn lẩm bẩm:

–  Anh hùng, anh hùng…

Chắc trong lòng vẫn suy nghĩ về lần trò chuyện ấy của Quách Tĩnh.

(Trích Anh hùng xạ điêu của Kim Dung)

Dị nhân ăn cắp

Ở Nhật Bản, có một dị nhân hay bị bắt vào tù vì tội ăn cắp — hôm nay ông ta lấy một món đồ nhỏ nầy, ngày mai ông ta lại ăn cắp một vật tầm thường khác. Không có vật gì đáng giá cả, nhưng đó cũng là hành vi ăn cắp và vẫn phải bị ngồi tù. Ông ta vào tù ra tù đến cả 26 lần, và tội nhân trong tù đều là đệ tử của ông.

Lần cuối cùng ông ra tù, ông đã 78 tuổi rồi. Những đệ tử của ông khuyên: “Thôi, Thầy đã già rồi, đừng làm như thế nữa!”

Ông trả lời: “Nếu ta không làm nữa thì ai sẽ vào tù để hóa độ những tội nhân kia? Ai sẽ giảng dạy, khuyên bảo chúng cải tà qui chánh? Nếu mọi người chỉ biết giải thoát sung sướng một mình mình thì ai sẽ là người vào địa ngục cứu khổ muôn loài? Ai là người bẻ khóa xiềng xích giải thoát cho sanh linh? Đó là con đường duy nhất ta phải làm, nếu không chúng sẽ không theo ta tu tập sửa đổi lỗi lầm.”

Ông Vương

Trong thời Vũ Đế nhà Hán, nhà vua triệu Thái thú Bắc Hải đến nơi nhà vua kinh lý để báo cáo công việc. Người lo việc giấy tờ là ông Vương xin được cùng đi với Thái thú, nói:

–  Tôi sẽ giúp ích được cho ông.

Thái thú bằng lòng. Các viên thư lại trong phủ đều nói:

–  Ông Vương là người thích rượu, lắm lời nhưng trống rỗng, sợ không thể cùng đi.

Thái thú nói:

–  Ý ông ta muốn đi, ta không muốn trái.

Bèn cùng ông ta đi. Trong khi ở quán trọ chờ đợi chiếu nhà vua triệu vào, ông Vương chỉ mang tiền mua rượu thịt cùng viên quan chỉ huy vệ binh ăn uống say sưa hàng ngày, không gặp Thái thú. Đến ngày Thái thú được triệu vào bái kiến, ông Vương hỏi:

–  Nếu Thiên tử hỏi ngài cai trị đất Bắc Hải như thế nào mà không có trộm cướp thì ngài trả lời như thế nào?

Thái thú đáp:

–  Chọn và cất nhắc đúng người tài, ai cũng dùng đúng năng lực của họ, thưởng những người giỏi, phạt những người kém.

Ông Vương nói:

–  Đáp như thế là tự đề cao, tự khoe công, không nên. Ngài cứ đáp: “Đó không phải là công sức của hạ thần, mà là nhờ thần linh uy vũ của Bệ hạ đã cảm hóa được lòng dân.”

–  Được! Phải đấy!

Khi Thái thú được triệu vào, đến quỳ dưới điện có chiếu hỏi:

–  Nhà ngươi cai trị đất Bắc Hải như thế nào mà trộm cướp không nổi lên?

Thái thú dập đầu, y lời đáp:

–  Khải tấu Bệ hạ, đó không phải là công sức của hạ thần, mà là nhờ thần linh uy vũ của Bệ hạ đã cảm hóa được lòng dân.

Vũ Đế cả cười, nói:

–  Ối chao! ông làm sao có được lời nói của bậc trưởng giả mà trình bày như vậy? Ai bày cho ông đấy?

Thái thú thật thà đáp:

–  Khải tấu Bệ hạ, hạ thần học từ người coi việc văn thư.

Nhà vua hỏi:

–  Ông ta nay ở đâu?

–  Thưa Bệ hạ, ông ta đang ở ngoài cửa cung.

Nhà vua cho gọi vào, thăng cấp cho cả hai ông.

(Trích Sử ký của Tư Mã Thiên)

[Suy đoán: ông Vương mua chuộc, dọ hỏi quan chỉ huy vệ binh nên biết trước nhà vua thường hỏi những câu gì. (BT) ]

Những chiến sĩ nhân đạo

Có lần một sư đoàn quân đội Nhật tập trận, vài sĩ quan thấy cần phải đặt bộ chỉ huy trong thiền viện của Gasan.

Gasan bảo nhà bếp: “Dọn cho các sĩ quan cùng một món mà chúng ta thường ăn.”

Điều này làm cho đám sĩ quan tức giận vì họ thường được hưởng ưu đãi. Một người đến gặp Gasan và nói: “Ông nghĩ chúng tôi là ai? Chúng tôi là chiến sĩ, hy sinh mạng sống cho quốc gia. Tại sao ông không đối đãi với chúng tôi đúng cách?”

Gasan nghiêm trọng trả lời: “Ông nghĩ chúng tôi là ai? Chúng tôi là chiến sĩ nhân đạo, cốt cứu được tất cả chúng sinh.”

Theo đuổi khát vọng

Tôi có một người bạn tên Monty Robert, hiện là chủ nhân một trại nuôi ngựa ở San Ysidro. Anh đã cho phép tôi dùng nhà của anh để tổ chức những buổi gây quỹ nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư có tính rủi ro cao do thanh niên thực hiện.

Một hôm, anh đến ngồi cạnh tôi và nói:

–  Tôi muốn kể cho bạn biết tại sao tôi để bạn sử dụng nhà của tôi để làm nơi tổ chức gây quỹ. Chuyện xảy ra cách đây nhiều năm. Có một cậu bé sống cùng với cha của mình, một người làm nghề huấn luyện ngựa. Do công việc, người cha phải sống như một kẻ du mục. Ông đi từ trang trại này đến trang trại khác để huấn luyện các chú ngựa chưa được thuần hóa. Kết quả là việc học hành của cậu bé không được ổn định lắm. Một hôm, thầy giáo bảo cậu bé về viết một bài luận văn với đề tài “Lớn lên em muốn làm nghề gì?” Đêm đó, cậu bé đã viết 7 trang giấy mô tả khát vọng ngày nào đó sẽ làm chủ một trang trại nuôi ngựa.

Em diễn đạt ước mơ của mình thật chi tiết. Thậm chí em còn vẽ cả sơ đồ trại nuôi ngựa tương lai với diện tích khoảng 200 mẫu, trong đó em chỉ rõ chỗ nào xây nhà, chỗ nào đặt làm đường chạy cho ngựa. Viết xong, cậu bé đem bài nộp thầy giáo. Vài ngày sau, cậu bé nhận lại bài làm của mình với một điểm 1 to tướng và một dòng bút phê đỏ chói của thầy “Đến gặp tôi sau giờ học.”

Thế là cuối giờ cậu bé đến gặp thầy và hỏi:

–  Thưa thầy, tại sao em lại bị điểm 1?

–  Em đã hoạch định một việc mà em không thể làm được. Ước mơ của em không có cơ sở thực tế. Em không có tiền thân lại xuất thân từ một gia đình không có chỗ ở ổn định. Nói chung, em không được một nguồn lực khả dĩ nào để thực hiện những dự tính của mình. Em có biết để làm chủ một trại nuôi ngựa thì cần phải có rất nhiều tiền không? Bây giờ tôi cho em về làm lại bài văn. Nếu em sửa chữa cho nó thực tế hơn thì tôi sẽ cứu xét đến điểm số của em. Rõ chưa?

Hôm đó, cậu bé về nhà và nghĩ ngợi mãi. Cuối cùng cậu gặp cha để hỏi ý kiến.

–  Con yêu, chính con phải quyết định vì ba nghĩ đây là ước mơ của con.

Nghe cha đáp, cậu bẻ liền nhoẻn miệng cười và sau đó đến gặp thầy giáo của mình

–  Thưa thầy, thầy có thể giữ điểm 1 của thầy, còn em xin được giữ ước mơ của mình.

Kể đến đây Monty dừng lại và hỏi tôi:

–  Bạn có biết bạn đang ngồi trong một trại ngựa rộng 200 mẫu của cậu bé trong câu chuyện mà tôi vừa kể không? Cách đây hai năm, vị thầy giáo đó đã tình cờ dẫn 30 học trò của ông đến đây để cắm trại. Thế là thầy trò tôi nhận ra nhau. Cầm tay tôi, thầy nói: “Monty này, khi anh còn học với tôi, tôi đã đánh cắp ước mơ của anh, và suốt bao nhiêu năm qua tôi cũng đã làm thế với bao đứa trẻ khác, tôi rất ân hận về điều đó.” Nghe thầy nói thế, tôi vội đáp: “Không, thưa thầy, thầy không có lỗi gì cả, chẳng qua thầy chỉ muốn những gì tốt đẹp sẽ đến với học trò của mình mà thôi. Còn em chỉ muốn theo đuổi tới cùng những khát vọng của đời mình.”

Các thiền sư hay chỉ dẫn cho từng cá nhân trong một căn phòng cô tịch; không ai được vào khi thầy và môn sinh đang ở cùng nhau.

Mokurai, thiền sư ở chùa Kennin tại Kyoto, thường ưa thích chuyện trò với các nhà buôn và nhà báo cũng như với các môn sinh của ông. Một người thợ đóng thùng nọ gần như thất học. Ông ta hay hỏi Mokurai những câu điên rồ, uống nước trà, rồi bỏ đi.

Một hôm khi người thợ đóng thùng ở đó, Mokurai muốn chỉ dẫn riêng tư cho một đệ tử, cho nên ông yêu cầu người thợ đóng thùng đợi ở một căn phòng khác.

“Tôi biết ông là một vị Phật sống,” ông thợ phản đối. “Ngay cả các tượng Phật bằng đá trong chùa cũng không bao giờ từ chối nhiều người cùng đến trước mặt các pho tượng đó. Thế thì tại sao tôi lại bị đuổi ra?”

Mokurai phải đi ra bên ngoài để gặp các đệ tử của ông.

Hạnh phúc vô biên

Hai người đàn ông đều bệnh nặng, được xếp chung một phòng tại bệnh viện. Một người được phép ngồi dậy mỗi ngày một tiếng để thông phổi. Giường ông ta nằm cạnh cửa sổ duy nhất trong phòng, người kia phải nằm suốt ngày. Hai người nói chuyện với nhau rất nhiều. Họ nói về vợ con, gia đình, nhà cửa công việc, những năm tháng trong quân đội và cả những kỳ nghỉ đã trải qua.

Mỗi chiều khi được ngồi dậy, người đàn ông cạnh cửa sổ dành hết thời gian để tả cho người bạn cùng phòng nghe những gì ông thấy được ngoài cửa sổ. Người kia, mỗi chiều lại chờ đợi được sống trong cái khoảnh khắc một tiếng đó – khoảnh khắc mà thế giới của người đó mở ra sống động bởi những hoạt động và màu sắc bên ngoài. Cửa sổ nhìn ra một công viên với một cái hồ nhỏ xinh xắn. Vịt, ngỗng đùa giỡn trên mặt hồ trong khi bọn trẻ thả những chiếc thuyền giấy. Những cặp tình nhân tay trong tay nhau đi dạo giữa ngàn hoa và ráng chiều rực rỡ. Những cây cổ thụ sum suê tỏa bóng mát, và xa xa là đường chân trời của thành phố ẩn hiện. Khi người đàn ông bên cửa sổ mô tả bằng lời những chi tiết tinh tế, người kia có thể nhắm mắt và tưởng tượng ra cho riêng mình một bức tranh sống động. Một chiều, người đàn ông bên cửa sổ mô tả một đoàn diễu hành đi ngang qua. Dù không nghe được tiếng nhạc, người kia vẫn như nhìn thấy được trong tưởng tượng qua lời kể của người bạn cùng phòng.

Ngày và đêm trôi dần….

Một buổi sáng, khi mang nước đến phòng cho họ, cô y tá phát hiện người đàn ông bên cửa sổ đã qua đời êm ái trong giấc ngủ. Cô báo cho người nhà đến mang ông đi. Một ngày kia, người đàn ông còn lại yêu cầu được chuyển đến bên cạnh cửa sổ. Cô y ta đồng ý để ông được yên tĩnh một mình. Chậm chạp gắng sức, ông nhổm dậy bằng hai cùi chỏ và ngắm nhìn thế giới bên ngoài. Ông căng thẳng nhìn ra cửa sổ. Đối diện ông chỉ là một bức tường xám xịt.

Ông hỏi cô y tá điều gì khiến người bạn khốn khổ cùng phòng của ông đã mô tả cho ông nghe những điều tuyệt diệu qua cửa sổ. Cô y tá cho biết rằng người đàn ông đó bị mù và thậm chí ông ta cũng không thấy được bức tường nữa. Cô nói: “Nhưng ông ấy muốn khuyến khích ông can đảm lên.”

Mẩu bánh mỳ

Một lần trong chiến tranh thế giới thứ hai có hai người tù Do Thái trốn khỏi trại tập trung Đức Quốc xã, họ chạy thục mạng và quyết định chia làm hai ngả…

Người tù già hơn nắm chặt tay người tù trẻ, ông đắn đo một lúc rồi nói “Này cháu, ta chỉ có một mẩu bánh mỳ, cháu hãy cầm lấy, ta già rồi, chịu đói được lâu hơn cháu… Nhưng cháu hãy hứa với ta rằng: chỉ khi nào cháu không còn cách nào, không còn một cách nào khác để có cái ăn thì cháu mới giở miếng bánh này ra… Trong rừng có nhiều thứ ăn được, nếu đến chỗ có dân cháu có thể làm thuê kiếm miếng ăn… Đường từ đây về nhà còn xa lắm, và nếu trong túi vẫn còn một miếng bánh thì cháu vẫn còn có thể chịu đựng được mọi gian truân…”

Người tù trẻ cảm động, hứa với ông già, nắm chặt lấy mẩu bánh mỳ rồi lao đầu chạy…

Ròng rã bao nhiêu ngày đêm anh nhằm hướng quê nhà mà chạy, khi thì phải lẩn lút trong rừng, khi thì băng cánh đồng. Anh hái quả rừng, lội suối tìm cá, khi gặp những người chăn cừu anh bẻ củi đến cho họ để nhận một bát sữa, hay một miếng thịt cừu thơm lừng…

Có lúc anh tưởng chừng không còn cách nào khác để có một miếng ăn. Tránh né quân Đức, anh lẩn lút vòng qua đầm lầy trong cái nóng hầm hập, xung quanh chỉ một màu xám xịt của lau sậy… Không biết bao nhiêu lần anh rút mẩu bánh mỳ đã khô cứng như đá ra khỏi túi, anh ngắm cái gói nhỏ gói bằng một miếng vải thô, quấn thật chặt và buộc bằng một sợi dây gai thắt nút, cái gói chỉ bằng nửa miếng xà phòng, chắc mẩu bánh mỳ còn bé hơn, song anh vẫn nuốt nước miếng, nghĩ đến vị bột ngọt ngào trên đầu lưỡi, chắc là có chút ẩm mốc… anh nhìn trừng trừng cái gói nhỏ rồi lại đút vào túi, bởi anh kinh hoàng nghĩ đến ngày mai, túi rỗng không mà đường thì còn xa lắc. Cứ thế anh đi ròng rã và cuối cùng cũng đến cái ngày anh ngã nhào vào tay người thân…

Sau những phút vui sướng khóc cười, anh vùng dậy, rút ra cái gói nhỏ đã bẩn thỉu hôi hám song vẫn được quấn rất chặt, anh nói: “Mẹ ơi, nhờ mẩu bánh này đây mà con thoát chết trở về…”

Anh cảm động gỡ nút dây, mở lần vải bọc và sững sờ: đó chỉ là một miếng gỗ được gọt đẽo vuông vức như một mẩu bánh mỳ!

Người cưỡi ngựa

Đó là một đêm lạnh cóng ở phía Bắc bang Virginia nhiều năm về trước.

Sương xuống lạnh khủng khiếp nhưng vẫn có một cụ già đứng bên đường chờ có người cho quá giang. Không biết cụ đã đợi từ bao giờ và sẽ phải đợi thêm bao lâu nữa, nhưng cụ vẫn run rẩy đứng đó, kiên nhẫn chờ đợi. Có rất nhiều người cưỡi ngựa đi qua nhưng ông cụ lặng im không vẫy họ. Thậm chí cụ cũng không làm gì để gây chú ý. Từng người, từng người qua chỗ cụ đứng nhưng cụ vẫn như một bức tượng đá. Đêm khuya dần, trời càng lạnh và người qua lại thưa thớt dần.

Bỗng ông cụ đứng bật dậy khi có tiếng vó ngựa lại gần:

–  Con trai, liệu con có thể cho ta đi nhờ một đoạn đường không? Đoạn này nhiều tuyết quá, ta không đi nổi nữa…

Người cưỡi ngựa ghìm cương, nhảy xuống đỡ ông cụ lên ngựa. Anh ta không chỉ cho ông cụ “đi nhờ một đoạn đường” mà còn đưa ông ấy về tận nhà.

Trước khi ông cụ vào nhà, người cưỡi ngựa tò mò hỏi:

–  Ông ạ, con nghĩ ông đứng đó lâu rồi, tại sao ông không đi nhờ sớm hơn? Đường này nhiều người qua lại lắm cơ mà! Tại sao ông cứ đứng chờ trong khi trời tối và lạnh như vậy?

Ông cụ nhìn vào mắt người cưỡi ngựa, trả lời:

–  Anh con trai, ta ở vùng này lâu rồi. Ta có thể nhìn vào mắt một người và phán đoán được về người đó. Khi những người cưỡi ngựa trước đi qua, họ liếc nhìn thấy ta rồi đi tiếp ngay. Trong ánh mắt đó không hề có mối quan tâm hay tình cảm, nên ta nghĩ dù ta có vẫy họ thì họ cũng chẳng để ý đâu. Nhưng khi con đi tới, từ đằng xa, con đã nhìn ta và không rời mắt khỏi ta. Trong ánh mắt đó, ta nhìn thấy sự cảm thương và lo lắng. Và ngay lúc đó, ta biết con muốn giúp đỡ ta.

Những lời đó thật sự làm người cưỡi ngựa cảm động:

–  Con rất cảm ơn ông đã nói những lời đó. Hy vọng con sẽ không bao giờ quá bận rộn đến mức không nhìn thấy những người khác khi họ cần giúp đỡ…

Và ngay lúc đó, Thomas Jefferson quay ngựa lại Nhà Trắng.

Thomas Jefferson là Tổng thống thứ ba của Mỹ, người đã soạn bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776.

Năm phút trong cuộc sống

Trong công viên, một người phụ nữ ngồi gần một người đàn ông trên băng ghế gần sân chơi cho trẻ em.

Người phụ nữ chỉ tay về phía cậu bé mặc áo len đỏ đang chơi cầu trượt: “Con trai tôi đó.”

Người đàn ông đáp lời: “Nó trông khoẻ mạnh quá! Còn con trai của tôi là đứa mặc áo len màu xanh ấy.” Nói rồi, ông ta nhìn đồng hồ và nói với theo cậu con trai: “Về thôi, Todd.”

Cậu bé tên Todd quay nhìn bố nài nỉ: “Năm phút nũa thôi mà bố, chỉ năm phút nữa thôi.”

Người đàn ông khẽ gật đầu và cậu bé lại tiếp tục chạy nhảy với vẻ rất vui sướng. Năm phút trôi qua, người cha đứng dậy và nói: “Sao? Bây giờ chúng ta về được chưa con?”

Todd lại nài nỉ một lần nữa: “Bố, năm phút nữa, chỉ năm phút nữa thôi!”

Người đàn ông lại mỉm cười và nói: “Được rồi!”

Người phụ nữ thấy vậy bèn thốt lên: “Ông thật là một người cha kiên nhẫn!”

Người đàn ông cười và chậm rãi nói: “Con trai cả Tommy của tôi bị một kẻ lái xe say rượu đụng chết năm ngoái trong khi nó đang chạy xe đạp gần đây. Tôi chưa bao giờ dành nhiều thời gian cho Tommy và bây giờ tôi có thể đánh đổi bất cứ thứ gì để có thể ở bên nó dù chỉ năm phút. Tôi nguyện rằng sẽ không bao giờ lặp lại lỗi lầm đó với Todd. Todd nghĩ nó có năm phút để chơi đùa. Nhưng sự thật là tôi đã có thêm năm phút nữa để nhìn nó chơi đùa.”

Giá trị của thời gian

Một kỹ sư tính ra rằng với một thanh thép nặng 5kg, chúng ta có thể làm được một trong các việc sau đây:
*  Nếu làm đinh sẽ bán được 10 USD.
*  Nếu làm kim may sẽ bán được 300 USD.
*  Còn nếu dùng làm những cái lò xo đồng hồ sẽ đem lại 25.000 USD

Mỗi ngày đều cho chúng ta 24 giờ bằng nhau, còn sử dụng những nguyên liệu đó như thế nào, dùng chúng để làm gì là tùy thuộc vào chúng ta.

Ðường lầy

Hai thiền sư có việc phải hạ sơn. Trên đường đi, hai huynh đệ thấy một thiếu nữ xinh xắn, ăn vận đẹp đẽ, đang đứng phân vân bên vệ đường. Chả là cô nàng muốn đi ăn cỗ cho sớm sủa mà lại bị một vũng nước to ngang đường chẹn mất lối đi.

Vị thiền sư trẻ tuổi liền tỏ ý giúp và bế cô qua quãng đường lầy. Sau lời cám ơn, đường ai nấy đi.

Buổi chiều, vừa về đến cổng tu viện, vị thiền sư lớn tuổi đã khều tay bạn hỏi một cách bực dọc:

–  Này chú… tại sao hồi sáng chú cả gan bế một thiếu nữ xinh đẹp thế kia qua vũng bùn mà không sợ ô nhiễm đến giới thể hử?

Vị thiền sư trẻ tuổi ngạc nhiên:

–  Ô hay! Đệ đã đặt cô nàng xuống bên kia vệ đường rồi cơ mà! Sao sư huynh còn cõng cô ta về tận nơi đây?

Chiếc vòng kỳ diệu

Một ngày nọ, vua Salomon muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình. Vua bèn nói với ông: “Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng kỳ diệu để đeo trong ngày lễ và ta cho ông sáu tháng để tìm chiếc vòng đó.”

Benaiah trả lời: “Thưa đức vua, nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, nhưng chiếc vòng ấy phải kỳ diệu như thế nào?”

Nhà vua đáp: “Nó có sức mạnh kỳ diệu ở chỗ: Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó sẽ thấy buồn, còn nếu ai đang buồn nhìn vào nó sẽ thấy vui.” Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.

Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.

Vào đêm trước ngày lễ, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi: “Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sướng và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không?”

Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng ngời một nụ cười.

Đêm đó, toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón mùa lễ hội.

Vua Salomon hỏi: “Nào, ông bạn của ta, ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa?”

Tất cả cận thần có mặt đều cười lớn và cả chính vua Salomon cũng cười.

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói: “Nó đây, thưa đức vua.”

Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua.

Trên chiếc vòng có khắc dòng chữ: Điều đó rồi cũng qua đi.

Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó ông cũng chỉ là cát bụi…

Lý do cho một tình yêu

Một cô gái hỏi người yêu của mình:

–  Tại sao anh yêu em?

–  Sao em lại hỏi như thế? Làm sao anh tìm được lý do chứ! – Chàng trai trả lời.

–  Không có lý do gì tức là anh không yêu em!

–  Em không thể suy diễn như vậy được.

–  Nhưng bạn trai của bạn em luôn nói cho cô ấy biết những lý do mà anh ta yêu cô ấy.

–  Thôi được, anh yêu em vì em xinh đẹp, giỏi giang, nhanh nhẹn. Anh yêu em vì nụ cười của em, vì em lạc quan. Anh yêu em vì em quan tâm đến người khác.

Cô gái cảm thấy rất hài lòng.

Vài tuần sau, cô gái gặp một tai nạn khủng khiếp nhưng thật may, cô ấy vẫn còn sống. Bỗng nhiên cô trở nên cáu kỉnh vì cảm thấy mình vô dụng. Vài ngày sau khi bình phục, cô gái nhận được một lá thư từ bạn trai của mình:

Em yêu!
    Anh đã yêu em vì em xinh đẹp. Thế thì với vết sẹo trên mặt, bây giờ anh không thể yêu em được nữa.
    Anh đã yêu em vì em giỏi giang, nhưng bây giờ em có làm được việc gì đâu! Vậy thì anh không thể yêu em được.
    Anh đã yêu em vì em nhanh nhẹn, nhưng thực tế là em đang ngồi trên xe lăn. Đây không phải là lý do để anh yêu em.
    Anh đã yêu em vì nụ cười của em, nhưng cả tháng nay rồi anh chẳng thấy em cười. Anh có nên yêu em nữa không?
    Anh đã yêu em vì em lạc quan. Bây giờ anh không yêu em nữa vì lúc nào em cũng nhăn nhó, than vãn.
    Anh đã yêu em vì em quan tâm đến người khác, nhưng giờ đây mọi người lại phải quan tâm đến em quá nhiều. Anh không nên yêu em nữa.
    Đấy, em chẳng có lý do gì khiến anh phải yêu em, vậy mà anh vẫn yêu em. Em có cần một lý do nào nữa không, em yêu?

Cô gái bật khóc và chắc chắn cô không cần biết một lý do nào nữa.

Bài kiểm tra nhớ đời

Khi tôi đang còn học năm thứ hai trường nữ hộ sinh, một ngày nọ, vị giáo sư già cho chúng tôi làm bài kiểm tra. Việc đầu tiên của tôi là lướt mắt qua toàn bộ các câu hỏi. Không có câu nào quá khó, vì tôi vốn là cô học trò thông minh! Duy chỉ có câu hỏi cuối cùng làm tôi bật ngửa người: Hãy cho biết tên của bà lao công trong trường ta.

Trời đất ạ! Bà lao công thì có liên quan gì tới chuyện đỡ đẻ và chăm sóc sản phụ kia chứ? Ngày nào tôi chẳng gặp bà! Bà ấy già lắm rồi, chẳng biết là 60 hay đã 70 tuổi. Mặt nhăn nheo, dáng vẻ khắc khổ, bà hầu như không bao giờ nói tiếng nào, suốt ngày chỉ cắm cúi cầm giẻ, cầm chổi lau nhà. Nhiều khi cả bọn chúng tôi vừa bô bô tán chuyện vừa đi trên hành lang, không thèm tránh lối cho bà lão đang còng lưng lau sàn nhà. Trông bà lão vội vàng né sang một bên, có lúc lòng tôi cũng cảm thấy hơi nao nao. Một lần nọ, mải chạy, một cô bạn tôi vấp té đánh đổ bịch sữa đang uống dở ra sàn. Bà lão tội nghiệp vội lắp bắp: “Các cô để đấy cho già. Các cô vội, cứ làm việc của mình đi. Đây là việc của già mà!”

Chỉ có thế thôi thì làm sao tôi biết họ và tên của bà? Mà có biết cũng chẳng để làm gì. Bà ấy chẳng qua chỉ như cái bóng âm thầm bên lề cuộc sống sôi động đang cuốn hút lũ sinh viên ồn ào chúng tôi. Tôi quyết định để trống câu trả lời. Cũng không có gì là quan trọng. Miễn tôi trả lời xuất sắc những câu hỏi liên quan tới chuyên môn là được.

Vài ngày sau, vị giáo sư trả lại bài kiểm tra. Ông chậm rãi nói: “Đa số các em đều viết được. Nhưng tôi lo ngại rằng nếu cứ cái đà này, khi tốt nghiệp lớp ta sẽ cho ra trường toàn là những… người máy. Đó sẽ là một thảm họa!”

Phía dưới, lũ học trò chúng tôi lao xao, không hiểu thầy muốn nói gì.

“Nghề của các em là chăm sóc, giúp đỡ phụ nữ trong những giờ phút đau đớn nhất và cũng là hạnh phúc nhất trong đời. Các em là thiên thần hộ mệnh cho những sinh linh mới. Nỗi đau của họ cũng phải là nỗi đau của chính các em. Nghề nghiệp của các em cần những con người nhạy cảm, biết quan tâm, nâng đỡ số phận của mọi người, dù họ là mệnh phụ phu nhân, một ngôi sao hay chỉ là một bà quét rác. Một bà lão cần mẫn phục vụ các em năm này qua năm khác mà các em cũng không thèm biết tên, không biết hoàn cảnh của bà ấy là một điều đáng để các em cần suy nghĩ. Vì thế, thầy cho rằng toàn bộ số bài kiểm tra của lớp ta đều không đạt yêu cầu.”

Một bài học nhớ đời đối với tôi! Sau này, tôi dò hỏi và biết được tên của bà lão. Bà đã làm việc ở đây gần nửa thế kỷ, từ lúc còn con gái. Hai người con trai của bà đã hy sinh trong chiến tranh. Bà ấy có quyền nghỉ hưu nhưng vẫn xin ở lại làm việc không lương.

Bay cạnh một thổ dân

Chuyện xảy ra vào thời nạn kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi còn nặng nề.

Trên chuyến bay của hãng British Airways (Hàng không Anh) từ thủ đô Johannesburg của Nam Phi, một người đàn bà Nam Phi da trắng ăn mặc sang trọng tìm thấy chỗ ngồi của mình cạnh một người da đen. Bà ta gọi tiếp viên lại để phàn nàn về chỗ ngồi.

Cô tiếp viên hỏi: “Có vấn đề gì vậy, thưa bà?”

Bà ta trả lời: “Cô không thấy à? Các cô đã xếp tôi ngồi cạnh một thổ dân. Tôi không thể ngồi cạnh một người khác biệt như vậy được. Hãy tìm cho tôi một chỗ khác”

Cô tiếp viên trả lời: “Xin bà bình tĩnh. Chuyến bay hôm nay rất đông khách, nhưng tôi sẽ đi kiểm tra xem còn chỗ nào ở khu vực hạng nhì hoặc hạng nhất không.”

Người đàn bà ném một cái nhìn khinh miệt về phía người đàn ông da đen bị xúc phạm và cả những hành khách khác đang có mặt trên chuyến bay.

Một vài phút sau, cô tiếp viên quay lại với một tin vui. Người đàn bà mỉm cười tự mãn với những người xung quanh.

“Thật không may, thưa bà. Như tôi đã đoán trước, khoang hạng thường đã hết chỗ. Tôi đã nói với tiếp viên trưởng nhưng khu vực hạng nhì cũng hết chỗ. Chúng tôi chỉ còn một chỗ duy nhất tại khoang hạng nhất.”

Trước khi bà kia kịp trả lời, cô nói tiếp: “Việc đổi chỗ này là rất đặc biệt, vì vậy tôi phải xin phép cơ trưởng. Nhưng trong trường hợp này, cơ trưởng cảm thấy thật là xúc phạm nếu bắt ai đó phải ngồi cạnh một người quá khó chịu.”

Nói xong, cô tiếp viên quay về phía người đàn ông da đen rồi nói: “Vì vậy, nếu ông có thể thu xếp đồ đạc, chúng tôi đã chuẩn bị cho ông một chỗ tại khoang hạng nhất.”

Cơ hội

Giáo sư Vật lý nổi tiếng George Gate muốn tìm một phụ tá cho mình khi nghiên cứu lĩnh vực truyền điện tín. Ông đăng báo tuyển phụ tá.

Phòng đợi hôm ấy chật ních. Mọi người đều chọn cho mình bộ quần áo sang trọng nhất, nghiên cứu hàng chục sách về morse trước khi đến đây. Họ đều phải chờ ở phòng ngoài cho tới khi được vị giáo sư mời vào phỏng vấn. Trong khi chờ đợi, họ tán gẫu và cố thể hiện kiến thức của mình. Chỉ có một chàng trai trẻ ngồi yên lặng, chú tâm quan sát phòng làm việc của George Gate. Anh đã theo dõi sát sao những công trình nghiên cứu trước đó của vị giáo sư này và rất muốn góp sức với ông. Nhiều giờ trôi qua, cửa phòng thí nghiệm vẫn đóng im ỉm. Phòng đợi vẫn ồn ã những tiếng bàn cãi sôi nổi.

Bỗng chàng trai vẫn ngồi im lặng khi nãy khẽ mỉm cười, bật đứng dậy bước vào phòng thí nghiệm của giáo sư. Cánh cửa không hề khóa. Thoạt đầu họ nhìn chàng trai với ánh mắt thương hại vì cho rằng anh ta không đủ kiên nhẫn chờ và định xin bỏ cuộc.

Nhưng không lâu sau, tất cả mọi người đều bất ngờ khi thấy giáo sư George từ phòng thí nghiệm bước ra cùng chàng trai trẻ.

–  Xin cảm ơn mọi người đã đến đây, nhưng tôi đã tìm được trợ lý thực sự có năng lực rồi.

Vị giáo sư chỉ vào chàng trai. Mọi người hết sức bất bình trước quyết định đột ngột của giáo sư. Họ đã phải chờ đợi rất lâu, vậy mà không có một cơ hội để chứng tỏ khả năng của mình.

Giáo sư chậm rãi giải thích:

–  Các bạn đã không để ý, nhưng ngay từ khi mọi người bước vào đây, máy điện tín của tôi đã liên tục đánh một dòng thông báo bằng tín hiệu như thế này: “Nếu bạn giải mã được lời nhắn này, hãy bước vào gặp tôi.” Tôi biết mọi người ở đây đều rất giỏi nhưng chỉ có một cơ hội, và người biết tập trung vào mục tiêu chính khi đến đây đã giành được cơ hội đó.

Và chàng phụ tá trẻ đó chính là Thomas Edison, người đã góp phần làm thay đổi thời đại của chúng ta. Cơ hội là cho tất cả mọi người. Nhưng chỉ những người có đủ tập trung và nhạy bén mới đọc được thông điệp của nó.

Tình hữu nghị

… Phạm Xuân Ẩn kể cho tôi nghe một câu chuyện với hy vọng có thể minh họa cho tôi về tình hữu nghị của nhân dân Mỹ có ý nghĩa nhiều đến mức nào đối với ông.

Một hôm, khi vẫn còn ở California, ông ngủ gật trên xe buýt trên đường từ Monterey đến Costa Mesa và lỡ bến đỗ. Lúc đó trời đã rất khuya. Người lái xe buýt cho biết xe sẽ không quay lại nữa. Phạm Xuân Ẩn chắc sẽ phải chờ cho chuyến xe buýt tiếp theo vào sáng ngày mai. Một phụ nữ trẻ nghe được cuộc trao đổi giữa ông với tài xế thì cảm thấy ái ngại cho Phạm Xuân Ẩn. Người phụ nữ này liền cùng xuống xe với ông để bà gọi một người bạn của gia đình đến chở Phạm Xuân Ẩn về Costa Mesa. Người phụ nữ nọ và Phạm Xuân Ẩn phải đi tìm một bốt điện thoại công cộng để gọi điện. Sau đó phải chờ gần hai giờ đồng hồ mới có xe của người bạn gia đình bà đến đón. Người phụ nữ này cũng ở lại chờ cùng với ông luôn.

Phạm Xuân Ẩn nhớ lại: Người phụ nữ này là con gái của đại tá Thorton ở Stanford. Người bạn của gia đình bà đến đón Phạm Xuân Ẩn là ông Mendenhall nhà ở Laguna Beach. Ông Mendenhall lái xe chở Phạm Xuân Ẩn trở về ký tức xá, trên đường đi ông cho biết ông có một người con trai làm việc trong không lực.

Vài tuần sau, gia đình Mendenhall mời Phạm Xuân Ẩn đến nhà họ ăn cơm tối. Phạm Xuân Ẩn nhớ lại: Gia đình Mendenhall là những người ủng hộ mạnh mẽ Richard Nixon, trên tường phòng khách của gia đình treo bức ảnh lớn của Phó Tổng thống Nixon. Trong bữa ăn, Phạm Xuân Ẩn biết rằng con trai của họ đóng quân tại tổng hành dinh quân sự ở Sài Gòn. Gia đình Mendenhall muốn Phạm Xuân Ẩn khi nào trở về Sài Gòn thì đến gặp con trai họ.

Phạm Xuân Ẩn nói:
“Là một tình báo viên, tôi nghĩ rằng hoàn toàn có thể khai thác được mối quan hệ này, nhưng tôi quyết định không làm việc đó và cũng không bao giờ nói về điều đó với cấp trên của tôi. Tôi vẫn giữ im lặng bởi vì sẽ là không sòng phẳng nếu như tôi lợi dụng một người mà con gái một người bạn của người ấy lại chính là vị cứu tinh đối với tôi vào tối hôm đó. Trong lúc tôi lạnh lẽo và cô đơn, ai biết được điều gì có thể sẽ xảy ra đối với tôi đêm hôm đó. Thế mà người phụ nữ ấy đã đến cứu tôi và che chở cho tôi.”

(Trích Perfect spy của Larry Berman, Nguyễn Đại Phượng dịch)

Cùng nhau vượt qua bão tố

Một công ty nọ tổ chức thi tuyển nhân viên. Câu hỏi cuối cùng trong phần thi viết khiến hầu hết thí sinh ngạc nhiên. Câu hỏi như sau: Bạn đang lái xe hơi đi trong một đêm bão tố cấp 12. Xe bạn chạy qua một quãng đường vắng và bạn phát hiện thấy có 3 người đứng ven đường vẫy tay xin đi nhờ xe. Họ gồm một bà cụ đang bị bệnh nặng, một bác sĩ giỏi dư sức cứu tính mạng của bạn nếu bạn mắc bệnh hiểm nghèo, và người thứ ba là cô gái bạn yêu. Họ mong bạn cứu giúp họ, bạn rất muốn nhưng rất tiếc xe bạn chỉ có thể chở thêm được một người. Bạn sẽ chọn chở người nào? Hãy giải thích lí do của sự chọn lựa ấy.

Tới đây, chắc bạn sẽ hiểu rằng đây là một câu hỏi đánh giá nhân cách của bạn, bởi mỗi sự lựa chọn đều phản ánh quan điểm của bạn về sinh mạng con người. Bạn có thể đưa bà cụ lên xe. Mặc dù bà cụ có thể (và có lẽ là sẽ như thế) không đủ sức qua được cho tới khi bạn gặp một bệnh viện, nhưng dù sao thì cứu người vẫn là trên hết. Còn một tia hy vọng le lói vẫn phải làm.

Nhưng đứng từ góc độ hơn thiệt, có lẽ bạn sẽ chọn ông bác sĩ. Bạn cứu ông ta để ông ta cứu bạn – một hành động thiết thực có tính chất đầu tư cho tương lai. Việc chở bà cụ nói cho cùng chỉ để lương tâm của bạn khỏi bị cắn rứt.

Có thể bạn sẽ tự vấn: Tại sao lại không chở người yêu của bạn? Bà lão đã già, các bạn còn trẻ, tương lai ở phía trước. Bác sĩ giỏi trong thiên hạ cũng không phải là quá hiếm. Trong cuộc đời cơ hội gặp được người bạn đời như ý hầu như là duy nhất. Bỏ qua cơ hội cứu được người bạn yêu cũng có nghĩa là phần đời còn lại của bạn không chắc đã trôi qua trong hạnh phúc.

Trong số hơn 200 ứng viên tham gia cuộc thi tuyển, chỉ có một người duy nhất có câu trả lời được ban giám khảo nhất trí lựa chọn, cho dù thí sinh này không đưa ra lời giải thích nào cho phương án của mình. Vậy thí sinh này đã trả lời ra sao? Phương án của thí sinh này là…

“Đưa chìa khoá xe cho bác sĩ. Ông ta sẽ chở bà cụ tới bệnh viện. Tôi sẽ cùng người bạn gái của tôi lội bộ vượt qua bão tố.”

Ân đức hay tội ác?

Vào đầu thời kỳ chiến quốc (giữa thế kỷ thứ V trước Công Nguyên), người dân ở Hàm Đan (kinh đô nước Triệu) có tục: Cứ ngày mồng một đầu năm họ mang chim ban cưu [tức cu gáy – BT] đến bán cho Triệu Giản Tử.

Triệu Giản Tử vui mừng thưởng tiền bạc cho họ rất nhiều.

Có người chất vấn Giản Tử:

–  Ngài mua chim ban cưu làm gì?

Giản Tử nói:

–  Ngày đầu năm ta thích phóng sinh để thể hiện cái ân đức của ta.

Người kia nói:

–  Mọi người biết ngài hay phóng sinh chim nên mới tranh nhau đi bắt chim, như vậy chim ban cưu chết vào ngày ấy rất nhiều. Nếu ngài thật muốn cho chim sống, sao không lệnh cho mọi người đừng bắt chúng? Chứ như bắt rồi mới phóng sinh e rằng ân đức này không bù đắp nổi tội ác này.

Triệu Giản Tử khen:

–  Ông nói đúng lắm!

Từ đó ông không mua chim vào ngày đầu năm nữa.

Tiệc rượu “Bứt đứt dải mũ”

Thắng trận, Sở Trang vương đời Xuân Thu truyền bày tiệc liên hoan, gọi là “Thái bình yến.” Phàm các quan văn võ bất cứ cấp nào đều được tham dự. Khi mặt trời gần lặn, tiệc rượu còn đương vui say, Sở Trang vương truyền đốt đèn lên, lại cho một nàng hầu yêu tuyệt đẹp là Hứa Cơ đi mời khắp quan triều thần, mỗi người một chén rượu.

Được mỹ nhân chuốc rượu, các quan lấy làm vui vẻ thích thú, đều đứng dậy đón lấy rượu uống. Bỗng có một ngọn gió to, bao nhiêu nến thắp ở trên điện tắt phụp cả. Điện tối mò. Bọn nội thị còn đương loay hoay đi châm lửa chưa đến. Trong hàng quan đại phu có một người trông thấy Hứa Cơ đẹp, nhân lúc tối tăm, đưa tay nắm lấy vạt áo của nàng. Hứa Cơ tay trái giằng vạt áo, tay mặt chụp được dải mũ của người ấy.

Dải mũ đứt, người ấy sợ lắm vội buông tay ra. Hứa Cơ lấy được dải mũ, rón rén đến trước Sở Trang vương, ghé tâu:

–  Thiếp vâng mạng đại vương ra mời các quan uống rượu, thế mà có người vô lễ dám nhân lúc tắt đèn, nắm lấy vạt áo thiếp. Nay thiếp bứt được cái dải mũ của người ấy, vậy xin đại vương giục thắp nến mà xét xem.

Nhưng Sở Trang vương lại truyền cho bọn nội thị chớ thắp nến vội, đoạn bảo các triều thần:

–  Ngày nay ta bày tiệc mong cùng các quan mua vui. Vậy các ngươi nên bứt đứt dải mũ cả đi, rồi cùng ta uống rượu thật say. Nếu ai không bứt đứt dải mũ thì chưa được vui lắm.

Nghe lịnh dạy, tất cả triều thần đều bứt đứt dải mũ của mình. Bấy giờ Sở Trang vương mới cho thắp đèn lại. Thành ra không ai biết người nào làm ẩu, níu lấy vạt áo mỹ nhân cả.

Tiệc xong trở về cung, Hứa Cơ tâu với Sở Trang vương:

–  Thiếp nghe nói kẻ trai gái phải có sự phân biệt, huống chi là vua tôi. Đại vương sai thiếp mời các quan uống rượu là để tỏ lòng mến, nay người ấy nắm lấy vạt áo thiếp mà đại vương không trị tội, thì còn ra thể thống gì nữa!

Sở Trang vương cười bảo:

–  Ta bày tiệc rượu này là muốn các quan đều được cùng vui. Rượu say sinh ra chớt nhả chẳng qua là lẽ thường tình. Nếu ta trị tội một người mà làm cho các quan không được vui thì ta không muốn.

Hứa Cơ nghe nói, phục vua là người có lượng.

Một ngày, Sở Trang vương đem quân đánh nước Trịnh, có một viên phó tướng tên Đường Giao xin đem 100 thủ hạ đi mở đường. Đường Giao cố sức xông pha. Quân nước Trịnh không ai đương nổi. Vì thế, đại binh của Sở Trang vương tiến thẳng đến địa giới của nước Trịnh một cách mau lẹ. Sở Trang vương thấy quân tiền bộ đi được nhanh chóng như thế, mới triệu Đường Giao đến, toan trọng thưởng.

Đường Giao thưa:

–  Tôi chịu ơn đại vương to lắm. Ngày nay gọi chút báo đền, có đâu lại dám lãnh thưởng!

Sở Trang vương ngạc nhiên hỏi:

–  Ta có biết nhà ngươi bao giờ mà nhà ngươi bảo là chịu ơn ta?

Đường Giao thưa:

–  Trong tiệc rượu có người nắm áo Hứa Cơ và bị đứt dải mũ, tức là tôi đó. Đại vương rộng lượng tha, không giết mà còn tìm cách làm tôi không phải bị nhục, vậy tôi cố sức phải báo đền.

Sở Trang vương truyền ghi công ấy để về sau phong thưởng.

Nhưng Đường Giao nói với bằng hữu:

–  Tội ta đáng chết mà đại vương không giết, vậy ta nên cố sức báo đền. Nay đã nói rõ sự thực rồi, chẳng lẽ ta là người có tội mà còn chờ đợi phong thưởng hay sao?

Ngay đêm hôm ấy, Đường Giao bỏ trốn.

(Trích Đông Chu liệt quốc)

Giấy chứng nhận

Trên đoàn tàu, cô soát vé hết sức xinh đẹp cứ nhìn chằm chằm vào người đàn ông lớn tuổi áng chừng là dân đi làm thuê, cộc lốc hạch sách:

–  Vé tàu!

Người đàn ông lớn tuổi lục khắp người từ trên xuống dưới một thôi một hồi, cuối cùng tìm thấy vé, nhưng cứ cầm trong tay không muốn chìa ra.

Cô soát vé liếc nhìn vào tay anh, cười trách móc:

–  Đây là vé trẻ em.

Người đàn ông đứng tuổi đỏ bằng mặt, nhỏ nhẹ đáp:

–  Vé trẻ em chẳng phải ngang giá vé người tàn tật hay sao?

Giá vé trẻ em và người tàn tật đều bằng một nửa vé, đương nhiên cô soát vé biết. Cô nhìn kỹ người đàn ông một lúc rồi hỏi:

–  Anh là người tàn tật?

–  Vâng, tôi là người tàn tật.

–  Vậy anh cho tôi xem giấy chứng nhận tàn tật.

Người đàn ông tỏ ra căng thẳng. Anh đáp:

–  Tôi… không có giấy tờ. Khi mua vé cô bán vé bảo tôi đưa giấy chứng nhận tàn tật, không biết làm thế nào, tôi đã mua vé trẻ em.

Cô soát vé cười gằn:

–  Không có giấy chứng nhận tàn tật, làm sao chứng minh được anh là người tàn tật?

Người đàn ông đứng tuổi im lặng, khe khẽ tháo giầy, rồi vén ống quần lên – Anh chỉ còn một nửa bàn chân.

Cô soát vé liếc nhìn, bảo:

–  Tôi cần xem chứng từ, tức là quyển sổ có in mấy chữ ‘Giấy chứng nhận tàn tật’, có đóng con dấu bằng thép của Hội người tàn tật!

Người đàn ông đứng tuổi có khuôn mặt quả dưa đắng, giải thích:

–  Tôi không có hộ khẩu của địa phương, người ta không cấp sổ tàn tật cho tôi. Hơn nữa, tôi làm việc trên công trường của tư nhân. Sau khi xảy ra tai nạn ông chủ bỏ chạy, tôi cũng không có tiền đến bệnh viện giám định…

Trưởng tàu nghe tin, đến hỏi tình hình.

Người đàn ông đứng tuổi một lần nữa trình bày với trưởng tàu, mình là người tàn tật, đã mua một chiếc vé có giá trị bằng vé của người tàn tật…

Trưởng tàu cũng hỏi:

–  Giấy chứng nhận tàn tật của anh đâu?

Người đàn ông đứng tuổi trả lời anh không có giấy chứng nhận tàn tật, sau đó anh cho Trưởng tàu xem nửa bàn chân của mình.

Trưởng tàu ngay đến nhìn cũng không thèm nhìn, cứ nhất quyết nói:

–  Chúng tôi chỉ xem giấy chứng nhận, không xem người. Có giấy chứng nhận tàn tật chính là người tàn tật, có giấy chứng nhận tàn tật mới được hưởng chế độ ưu đãi vé người tàn tật. Anh mau mau mua vé bổ sung.

Người đứng tuổi bỗng thẫn thờ. Anh lục khắp lượt các túi trên người và hành lý, chỉ có bốn đồng, hoàn toàn không đủ mua vé bổ sung. Anh nhăn nhó và nói với Trưởng tàu như khóc:

–  Sau khi bàn chân tôi bị máy cán đứt một nửa, không bao giờ còn đi làm được nữa. Không có tiền, ngay đến về quê cũng không về nổi. Nửa vé này cũng do bà con đồng hương góp mỗi người một ít để mua giùm, xin ông mở lượng hải hà, giơ cao đánh khẽ, nương bàn tay cao quý, tha cho tôi.

Trưởng tàu nói kiên quyết:

–  Không được.

Thừa dịp, cô soát vé nói với Trưởng tàu:

–  Bắt anh ta lên đầu tàu xúc than, coi như làm lao động nghĩa vụ.

Nghĩ một lát, Trưởng tàu đồng ý:

–  Cũng được.

Một người lão thành ngồi đối diện với người đàn ông đứng tuổi tỏ ra chướng tai gai mắt, đứng phắt lên nhìn chằm chằm vào mắt vị Trưởng tàu, hỏi:

–  Anh có phải đàn ông không?

Vị Trưởng tàu không hiểu, hỏi lại:

–  Chuyện này có liên quan gì đến tôi có là đàn ông hay không?

–  Anh hãy trả lời tôi, anh có phải đàn ông hay không?

–  Đương nhiên tôi là đàn ông!

–  Anh dùng cái gì để chứng minh anh là đàn ông? Anh đưa giấy chứng nhận đàn ông của mình cho mọi người xem xem!

Mọi người chung quanh cười rộ lên.

Thừ người ra một lát, vị Truởng tàu nói:

–  Một người đàn ông to lớn như tôi đang đứng đây, lẽ nào lại là đàn ông giả?

Người lão thành lắc lắc đầu, nói:

–  Tôi cũng giống anh chị, chỉ xem chứng từ, không xem người, có giấy chứng nhận đàn ông sẽ là đàn ông, không có giấy chứng nhận đàn ông thì không phải là đàn ông.

Vị trưởng tàu tịt ngóp, ngây người một lúc không biết ứng phó ra sao.

Cô soát vé đứng ra giải vây cho Trưởng tàu. Cô nói với người lão thành:

–  Tôi không phải đàn ông, có chuyện gì ông cứ nói với tôi.

Người lão thành chỉ vào mặt chị ta, nói thẳng thừng:

–  Cô hoàn toàn không phải là người!

Cô soát vé nổi cơn tam bành, nói the thé:

–  Ông ăn nói đàng hoàng một chút. Tôi không là người thì là gì?

Người lão thành vẫn bình tĩnh, cười ranh mãnh, ông nói:

–  Cô là người ư? Cô đưa giấy chứng nhận “ngườí” của cô ra xem nào!

Mọi hành khách chung quanh lại cười ầm lên một lần nữa.

Chỉ có một người không cười. Đó là người đàn ông trung niên bị cụt chân. Anh cứ nhìn trân trân vào hư vô, mắt đẫm lệ.

Đại hạ giá

Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v…v… hạ giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Lev Tolstoy, Tagore, Dostoievski… đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng… cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt. Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi: Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?

Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.

Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque – Đô Bi – Professeur.” À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu – tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!

Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.

Một chị hàng rong đến mời:

–   Anh mua bánh bò, bánh tiêu?

Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị hỏi:

–   Anh có bán… trả góp không?

–  Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?

–  Tôi cần mua cả hai – chị nói tiếp – xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.

Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.

Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:

–  Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à.

–  Nhưng…

–  Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được.

Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền:

–  Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn… cảm ơn… anh nhá!

Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể:

–  Thầy Bi thảm lắm… Gần Tết, cô lại ngã bệnh… Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!… Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!

Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to: “Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski… ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô… ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là ‘Tấm lòng’.”

Bữa cơm của Khổng Tử

Một lần Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề. Trong đám học trò đi với Khổng Tử có Nhan Hồi và Tử Lộ là 2 học trò yêu của Khổng Tử.

Trong thời Đông Chu, chiến tranh liên miên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và cũng có nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. Tuy vậy, không một ai kêu than, thoái chí; tất cả đều quyết tâm theo thầy đến cùng.

May mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, nên đem biếu thầy trò một ít gạo. Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi đảm nhận việc thổi cơm.

Tại sao Khổng Tử lại giao cho Nhan Hồi – một đệ tử đạo cao đức trọng mà Khổng Tử đã đặt nhiều kỳ vọng nhất – phần việc nấu cơm? Bởi lẽ, trong hoàn cảnh đói kém, phân công cho Nhan Hồi việc bếp núc là hợp lý nhất.

Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi thổi cơm ở nhà bếp, Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ.

Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống thấy Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ. Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh rồi từ từ đưa cơm lên miệng.

Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thầy tôn kính. Khổng Tử thở dài… ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Học trò giỏi nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”

Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về. Nhan Hồi lại luộc rau. Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ.

Một lát sau rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên: tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử xơi cơm.

Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng:

“ Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước.

“ Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa cơm đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thầy nhớ đến cha mẹ thầy, cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy, các con bảo có nên chăng?”

Trừ Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nên ạ!”

Khổng Tử lại nói: “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?”

Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau.

Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch.”

Khổng Tử hỏi: “Tại sao?”

Nhan Hồi thưa:

“ Khi cơm chín con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra định vất đi nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình trung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em.

“ Thưa thầy, như vậy là hôm nay con ăn cơm rồi. Bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ!”

Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng:

“ Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử nầy trở thành kẻ hồ đồ rồi!”

Hôm qua – Hôm nay – Ngày mai

Đây là một câu chuyện có thật trong lịch sử. Tại một trường trung học ở Mỹ, có một lớp học nọ với 26 em học sinh cá biệt. Những em học sinh trong lớp học này đều có tiểu sử không mấy hay ho: em từng tiêm chích ma túy, em từng vào trại cải tạo, thậm chí có một học sinh nữ mà trong một năm đã phá thai tới 3 lần.

Gia đình đều chán nản và đã buông bỏ chúng, các thầy cô giáo trong trường thậm chí cũng coi chúng là đồ bỏ đi. Tưởng chừng cuộc sống đã hết hy vọng thì một ngày kia, Phila, một cô giáo mới về trường tình nguyện làm chủ nhiệm của những đứa trẻ hư hỏng này.

Khác với suy đoán của bọn trẻ, trong ngày đầu tiên nhận lớp, Phila không hề quát nạt hay ra oai với chúng. Trong chiếc đầm lụa màu xanh nhạt, mái tóc màu nâu hạt dẻ búi cao, Phila bước nhẹ lên bục giảng. Cô dịu dàng nhìn xuống lũ trẻ một lượt rồi cất tiếng với vẻ trầm ngâm:

“ Cô sẽ kể cho các em nghe về quá khứ của 3 người đàn ông khác nhau.

“ Người thứ nhất từng có những vụ bê bối về chính trị, rất tin vào y thuật của thầy cúng, ông ta từng có tới 2 tình nhân, hút thuốc nhiều và uống 8-10 ly rượu mạnh mỗi ngày.

“ Người thứ hai 2 lần bị đuổi việc, hôm nào cũng ngủ tới trưa mới dậy và tối nào cũng uống 1 lít rượu cognac. Ông ta từng hít thuốc phiện khi còn là sinh viên…

“ Người thứ ba là anh hùng chiến tranh của một đất nước. Ông ta ăn chay trường, không bao giờ hút thuốc và thỉnh thoảng mới uống rượu, có uống bia nhưng uống không nhiều. Thời thanh niên không hề làm gì phạm pháp và không hề có một vụ bê bối tình ái nào”.

Cô hỏi cả lớp: trong 3 người, ai sau này sẽ cống hiến nhiều nhất cho nhân loại?

Các em học sinh đồng thanh chọn người thứ 3, nhưng cô giáo làm cho cả lớp kinh ngạc khi trả lời:

“ Các em thân mến, cô biết chắc chắn các em sẽ cho rằng chỉ người thứ ba mới có thể cống hiến được nhiều cho nhân loại. Nhưng các em sai rồi đấy.

“ Ba người này là những nhân vật nổi tiếng trong Thế chiến thứ 2:
“ Người thứ nhất là Franklin Roosevelt, tuy tàn tật nhưng ý chí kiên cường, ông đảm nhận chức vụ tổng thống Mỹ trong bốn nhiệm kỳ liên tiếp.
“ Người thứ hai là Winston Churchill, thủ tướng nổi tiếng nhất trong lịch sử nước Anh.
“ Người thứ ba là Adolf Hitler, con ác quỷ phát xít cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu người dân vô tội”.

Khi cô nói xong, tất cả học sinh đều ngây người nhìn cô và như không tin nổi những gì chúng vừa nghe thấy. Cô giáo nói tiếp:

“Các em biết không, những điều mà cô nói về ba nhân vật này là quá khứ của họ. Còn sự nghiệp sau này của họ, là những việc mà họ làm sau khi họ thoát ra khỏi cái quá khứ đó. Các em ạ, cuộc sống của các em chỉ mới bắt đầu, vinh quang và tủi nhục trong quá khứ chỉ đại diện cho quá khứ. Cái thực sự đại diện cho cuộc đời một con người chính là những việc làm ở hiện tại và tương lai. Hãy bước ra từ bóng tối của quá khứ, bắt đầu làm lại từ hôm nay, cố gắng làm những việc mà các em muốn làm nhất trong cuộc đời mình, các em sẽ trở thành những người xuất chúng…”

Phila vừa nói vừa nhìn chúng với ánh mắt đầy hy vọng.

Sau khi những học sinh này trưởng thành, rất nhiều người trên cương vị công tác của mình đạt được nhiều thành tích đáng tự hào: Có người trở thành bác sĩ tâm lý, có người trở thành quan tòa, có người trở thành nhà du hành vũ trụ. Điều đáng nói là, Robert Harrison, cậu học sinh thấp nhất và quậy phá nhất lớp, sau này trở thành giám đốc tài chính trẻ nhất của Phố Wall.

Chuyến bay Delta 15

Câu chuyện đã xảy ra gần 12 năm mới được một tiếp viên hàng không kể lại.

Jerry Brown – Tôi muốn chia sẻ câu chuyện này bởi vì bây giờ chúng ta cần những câu chuyện đẹp như thế này. Tôi hy vọng khi biết dù ta bị trôi dạt đến nơi xa xôi và xa lạ,  ta vẫn có thể nhận được sự đối xử tử tế. Thế giới này có bao nhiêu điều tốt đẹp. Bất chấp mọi điều xấu xa chúng ta thấy đang diễn ra, vẫn còn rất nhiều người tốt và thánh thiện trên thế giới và họ sẽ hiện ra khi tình thế  của chúng ta xấu tệ đi.

Vào sáng ngày Thứ Ba, 11 Tháng Chín năm 2001, chúng tôi rời khỏi Frankfurt khoảng 5 giờ đồng hồ rồi và đang bay qua Bắc Đại Tây Dương.

Thình lình tấm màn ngăn cách giữa buồng lái với khoang tàu chứa hành khách vén mở và tôi được gọi vào buồng lái gặp phi công trưởng ngay lập tức.

Vừa bước vào buồng lái là tôi để ý nhận thấy ngay nét nghiêm trọng lộ trên khuôn mặt mọi người. Phi công trưởng đưa cho tôi một bản in ra vừa nhận từ trụ sở chính của hãng Delta Airlines ở Atlanta viết vỏn vẹn câu: “Mọi tuyến không lưu trên lục địa Hoa Kỳ đều ngăn cấm giao thông hàng không thương mại. Hãy đáp khẩn cấp càng sớm càng tốt xuống phi trường nào gần nhất. Hãy thông báo điểm đáp.”

Không ai nói một lời nào cho tôi biết điều này mang ý nghĩa gì. Chúng tôi biết đây là một tình thế nghiêm trọng và chúng tôi cần phải tìm đất liền để đáp ngay. Phi công trưởng xác định sân bay gần nhất là phi trường Gander, Newfoundland, cách 400 dặm. Ông liên lạc với trạm không lưu Canada để xin cho thay đổi tuyến bay và được chấp thuận ngay mà không cần hỏi lý do. Tất nhiên sau đó chúng tôi đã hiểu ra lý do tại sao họ chấp thuận không do dự.

Trong khi phi hành đoàn chuẩn bị cho máy bay hạ cánh, một tin nhắn đến từ Atlanta báo cho chúng tôi biết có hoạt động khủng bố trong khu vực New York. Vài phút sau, tin cập nhật cho biết có không tặc.

Delta 15 mapChúng tôi quyết định nói dối với hành khách trong khi chúng tôi vẫn còn ở trên không. Chúng tôi nói với họ rằng máy bay gặp một trục trặc nhỏ về cơ khí và cần phải hạ cánh tại sân bay gần nhất ở Gander, Newfoundland để kiểm tra. Chúng tôi hứa sẽ cung cấp thêm thông tin sau khi hạ cánh ở Gander. Có nhiều hành khách phàn nàn, nhưng điều đó không có gì mới lạ! Bốn mươi phút sau, chúng tôi hạ cánh xuống Gander. Giờ địa phương lúc bấy giờ tại Gander là 12:30 PM, tức là 11:00 AM New York.

Khi chúng tôi đáp thì đã có khoảng 20 máy bay khác trên mặt đất đến từ khắp nơi trên thế giới, và họ cũng đã phải chọn lối đi vòng này trên đường đến Hoa Kỳ.

Sau khi chúng tôi đã đậu trên phi đạo chờ lệnh mới, phi công trưởng thông báo như sau: “Thưa quý vị, chắc quí vị thắc mắc phải chăng tất cả các máy bay xung quanh chúng ta có vấn đề cơ khí tương tự như chúng ta. Thật ra chúng ta đang ở đây là vì một lý do khác.” Sau đó, ông tiếp tục giải thích thêm đôi chút cho chúng tôi biết về tình hình tại Hoa Kỳ. Có những tiếng thở hổn hển ồ to lên và những tia nhìn hoài nghi thảng thốt. Phi công trưởng thông báo cho hành khách biết rằng giới hữu trách của phi trường Gander bảo chúng tôi giữ yên tại chỗ.

Bấy giờ trách nhiệm và quyền quyết định về tình trạng của chúng tôi tùy thuộc ở chính phủ Canada, và lệnh của họ là không ai được ra khỏi máy bay. Và cũng không ai dưới đất được phép đến gần bất kỳ phi cơ nào. Chỉ có cảnh sát sân bay cứ lâu lâu lại đến dòm ngó chúng tôi một lúc, xong đi qua các máy bay khác. Trong khoảng một giờ đồng hồ kế tiếp, thêm nhiều máy bay hạ cánh và sau cùng Gander tiếp nhận tất cả là 53 máy bay từ khắp nơi trên thế giới, 27 chiếc trong số đó là phi cơ hàng không thương mại của Mỹ.

Trong khi đó, những mảnh tin tức bắt đầu phát ra trên hệ thống âm thanh của phi cơ. Lần đầu tiên chúng tôi được biết các phi cơ bị không tặc đã đâm vào World Trace Center ở New York và vào Lầu Năm Góc trong vùng Washington DC. Mọi người cố gắng dùng điện thoại di động của họ, nhưng không thể kết nối vì hệ thống truyền sóng ở Canada khác biệt. Một số người gọi thông qua được, nhưng chỉ có thể với tổng đài ở Canada và họ cho biết rằng các làn sóng nối kết vào đất Mỹ đã bị chặn hoặc bị nghet.

Khoảng vào buổi tối trong ngày, tin tức cho chúng tôi rằng hai tòa cao ốc World Trace Center đã sụp đổ và chiếc phi cơ thứ tư bị không tặc đã đâm xuống đất. Bấy giờ hành khách đều kiệt sức về thể chất lẫn cảm xúc, không kể nỗi sợ hãi, nhưng tất cả mọi người đều bình tĩnh đáng kinh ngạc. Chúng tôi chỉ cần nhìn ra ngoài cửa sổ thấy 52 phi cơ bị lạc khác để nhận ra rằng chúng tôi không phải là người duy nhất trong tình trạng khó khăn này.

Trước đó chúng tôi được thông báo rằng họ sẽ cho phép hành khách lần lượt ra khỏi máy bay mỗi lần một chiếc. Lúc 6 giờ chiều, sân bay Gander nói với chúng tôi rằng phiên chúng tôi được phép rời phi cơ sẽ là 11 giờ sáng hôm sau. Hành khách không hài lòng tí nào, nhưng họ cũng buông xuôi chấp nhận tin không vui này mà không phản đối ồn ào; họ bắt đầu chuẩn bị sẵn sàng để ở qua đêm trên máy bay.

Gander hứa với chúng ta sẽ chăm sóc y tế, nếu cần thiết, nước, và dịch vụ vệ sinh. Và họ giữ lời. May mắn thay, chúng tôi không có tình huống y tế nào phải lo lắng. Chúng tôi có một phụ nữ trẻ mang thai 33 tuần. Chúng tôi chăm sóc rất chu đáo cho thai phụ đó. Đêm trôi qua không gặp biến cố nào ngoại trừ sự xếp đặt chỗ ngủ không được thoải mái.

Khoảng 10 giờ 30 sáng ngày 12, một đoàn xe buýt trường học chạy đến. Chúng tôi ra khỏi máy bay và được đưa đến nhà ga, nơi chúng tôi thông qua thủ tục nhập cảnh và quan thuế, và sau đó phải ghi danh với Hội Hồng Thập Tự.

Sau đó chúng tôi (phi hành đoàn) được tách ra khỏi đám đông hành khách và được xe van đưa đến một khách sạn nhỏ. Chúng tôi không biết hành khách của chúng tôi được đưa đi đâu. Nhân viên của Hội HTT cho chúng tôi biết rằng thị trấn Gander có dân số 10.400 người và họ đang có khoảng 10.500 hành khách phải chăm sóc từ tất cả các máy bay đã buộc phải đáp xuống Gander! Họ bảo chúng tôi hãy yên tâm nghỉ ngơi tại khách sạn và họ sẽ liên lạc khi các phi trường Mỹ mở và hoạt động trở lại, nhưng chắc cũng mất một thời gian.

Chỉ khi chúng tôi đến khách sạn và bật TV lên, chúng tôi mới biết hết toàn diện của cuộc tấn công khủng bố ở quê nhà (nước Mỹ), 24 giờ sau khi nó bắt đầu diễn ra.

Trong lúc đó, chúng tôi có rất nhiều thì giờ rảnh rỗi và nhận thấy rằng người dân Gander vô cùng thân thiện. Họ bắt đầu gọi chúng tôi là “người máy bay.” Chúng tôi hưởng nhận tính hiếu khách của họ, khám phá thị trấn Gander kết cuộc đã trải qua một khoảng thời gian khá tốt đẹp.

Hai ngày sau, chúng tôi được gọi và được đưa trở lại sân bay. Trên máy bay, chúng tôi đoàn tụ với các hành khách và khám phá những gì họ đã làm trong hai ngày qua. Những điều chúng tôi khám phá đó thật không thể tin được.

Gander và tất cả các cộng đồng xung quanh (trong vòng bán kính 75km) đóng cửa tất cả các trường trung học, hội trường, nhà nghỉ, và bất kỳ nơi tập hợp lớn nào khác. Họ biến đổi tất cả các cơ sở vật chất đó thành chỗ trú ngụ chung cho tất cả lữ khách lỡ đường. Có chỗ thì trải chiếu, chỗ thì trải nệm, chỗ thì trải túi ngủ và gối nằm.

Tất cả các học sinh trung học được kêu gọi tình nguyện thì giờ để chăm sóc cho “khách.” 218 hành khách của phi cơ chúng tôi được đưa tới một thị trấn có tên là Lewisporte, cách Gander khoảng 45 cây số, nơi đó họ được trú ngụ trong một trường trung học. Hành khách phụ nữ nào muốn có khu ngủ riêng cũng được sắp xếp theo ý muốn. Các hành khách đi chung cả gia đình cũng được giữ lại chung với nhau. Tất cả các hành khách lớn tuổi được đưa tới nhà riêng.

Các bạn còn nhớ người phụ nữ trẻ mang thai chứ? Bà ấy được đưa đến một nhà riêng đối diện bên kia đường với một cơ sở chăm sóc khẩn cấp 24 giờ. Có một nha sĩ được cử sẵn nếu cần đến, các y tá nam và nữ túc trực cạnh đám đông trong suốt thời gian tạm trú.

Các cuộc gọi điện thoại và e-mail cho Mỹ và thế giới được thiết lập sẵn để tất cả mọi người có thể dùng mỗi ngày một lần. Vào ban ngày, hành khách được cung cấp các chuyến “du ngoạn”. Một số chọn đi du ngoạn bằng tàu thuyền trên các hồ và bến cảng. Một số chọn đi băng đồng trong các khu rừng của địa phương. Các tiệm nướng bánh địa phương tiếp tục mở cửa để làm bánh mì tươi cho khách hàng.

Thức ăn được các cư dân nấu nướng ở nhà rồi mang đến cho các trường học. Người nào thích dùng bữa ở nhà hàng theo sự lựa chọn của họ cũng được đưa đi và được cung cấp các bữa ăn tuyệt vời. Mọi người đều được cấp phiếu đến các tiệm giặt địa phương để giặt quần áo vì tất cả hành lý vẫn còn giữ trên máy bay.

Nói cách khác, mỗi nhu cầu thuần nhất của lữ khách lỡ đường cũng đều được đáp ứng đầy đủ. Hành khách đã khóc khi kể lại với chúng tôi những câu chuyện này.

Cuối cùng, khi có tin tất cả phi trường ở Mỹ đã mở cửa trở lại, họ được chở đến sân bay đúng giờ và không thiếu một hành khách nào. Hội HTT địa phương đã nắm đầy đủ tất cả các thông tin của mọi hành khách và đã đưa trả hành khách về lại đúng chuyến bay. Họ phối hợp tất cả mọi thứ một cách tốt đẹp. Thật đúng là hoàn toàn không thể tin được.

Khi hành khách đã trên tàu, nó giống như họ vừa mới đi một chuyến du hành trên biển. Tất cả mọi người đều biết tên nhau. Họ trao đổi những câu chuyện của họ trong mấy ngày qua, khoe với nhau xem người nào được đối xử tốt hơn.

Chuyến bay của chúng tôi về đến Atlanta trông giống như một chuyến bay du ngoạn ăn chơi được thuê bao. Phi hành đoàn tránh ra để họ tự do. Thật không thể tưởng. Hành khách hoàn toàn hàn gắn với nhau và gọi nhau bằng tên một cách thân mật, cùng nhau trao đổi số điện thoại, địa chỉ, địa chỉ email.

Và sau đó là một điều rất lạ thường xảy ra. Một trong những hành khách của chúng tôi đến gần tôi và hỏi tôi rằng ông ta có thể dùng hệ thống âm thanh của phi cơ để nói vài lời được không. Chúng tôi không bao giờ cho phép điều đó. Nhưng lần này thì khác. Tôi nói “tất nhiên” và đưa máy vi âm cho ông. Ông nhắc mọi người về những gì họ vừa trải nghiệm trong mấy ngày qua. Ông nhắc nhở họ về lòng hiếu khách mà họ đã nhận được từ tay của những con người hoàn toàn xa lạ. Ông tiếp tục nói rằng ông muốn làm một điều gì đó để đền đáp lại cho những cư dân tốt bụng của Lewisporte.

Ông cho biết ông sẽ thành lập một Quỹ tín thác dưới tên Delta 15 (số hiệu chuyến bay của chúng tôi). Mục đích của quỹ tín thác là cung cấp học bổng đại học cho học sinh trung học của Lewisporte. Ông kêu gọi mọi khách đồng hành cùng chuyến bay đóng góp bất kỳ số tiền bao nhiêu cũng được. Khi chúng tôi đã gom góp đủ hết các tờ giấy ký hứa có ghi số tiền, tên họ, số điện thoại và địa chỉ, tổng số khoản tài trợ là trên $14.000!

Người đề xướng đó là một bác sĩ ở Virginia, ông hứa phần ông sẽ đóng góp bằng với số tiền đó và sẽ tiến hành thủ tục giấy tờ lập học bổng. Ông cũng nói rằng ông sẽ chuyển đề nghị này đến Công ty Hàng không Delta và sẽ yêu cầu họ cùng hiến tặng.

Khi tôi viết bài này, quỹ tín thác đã lên hơn $1.5 triệu và đã hỗ trợ 134 học sinh theo học đại học.

Tôi muốn chia sẻ câu chuyện này chỉ bởi vì bây giờ chúng ta cần những câu chuyện đẹp như thế. Nó mang lại cho tôi một chút hy vọng khi biết rằng người ta dù ở nơi xa xôi vẫn có thể đối xử tử tế với người lạ trôi dạt tới. Nó nhắc tôi thế giới này có bao nhiêu điều tốt đẹp. Bất chấp mọi điều xấu xa chúng ta thấy đang diễn ra trong thế giới ngày nay, câu chuyện này khẳng định rằng vẫn còn rất nhiều người tốt và thánh thiện trên thế giới và họ sẽ hiện ra khi tình thế xấu tệ đi.

Xin thượng đế ban phước cho Hoa Kỳ. Xin thượng đế ban phước cho người dân Canada… và đặc biệt là xin thượng đế ban phước cho người dân Newfoundland.

(Phan Hạnh chuyển ngữ)

Một ngày không vội vã

Hoàng Thanh (Nhật báo Viễn đông)

Mỗi năm một lần, tôi về thăm Mẹ và các em hiện đang sống ở Montréal, Canada. Năm nay cũng như thuờng lệ, tôi về thăm nhà 2 tuần cuối tháng 6. Nói sao cho hết niềm vui gặp lại gia đình. Montréal vào mùa hè thật nóng bức, có ngày lên đến hơn 100 độ F, nên cả nhà thường rủ nhau đi ra ngoài chơi cho mát mẻ.

Tôi còn nhớ sáng hôm đó, cả nhà định dẫn mấy đứa cháu ra công viên cho tụi nhỏ hưởng chút khí trời. Tôi thì đã thay quần áo từ lâu, cứ chờ mãi mà mọi người cứ “xàng qua xàng lại”, gần 9 giờ vẫn chưa xong, nhất là mấy đứa nhóc thì cứ lăng xăng chơi game, không ai chịu thay quần áo.

Thế là tôi bắt đầu nổi quạu: “Nhà mình sao làm gì cũng như rùa bò vậy? Có đi hay không thì bảo…?”

Cô em tôi nhỏ nhẹ: “Thì từ từ, vacation mà lị, chị sống ở Mỹ riết rồi quen thói ‘stress out’ hả…”

Cậu em trai thì nói: “Chị làm gì mà dữ vậy, chị có biết hôm nay là ngày không vội vã hôn?”

Tôi ngạc nhiên, tưởng tai mình nghe lầm, nên hỏi lại: “Ngày gì? Không vội vã là sao?”

Thế là Má tôi bật tivi lên. Trên màn ảnh, đài nào cũng đang nói về cái ngày đặc biệt này. Ồ, thì ra là từ vài năm nay, mỗi năm chính phủ Canada chọn ra một ngày, thường là vào mùa hè, một ngày cuối tuần, và năm nay rơi vào ngày 26 tháng 6, gọi là “một ngày không vội vã”.

Khoảng chừng vài tuần trước đó, là báo chí, các cơ quan truyền thông đều loan báo và nhắc nhở để mọi người chuẩn bị. “Ngày không vội vã” bắt đầu từ 8 giờ sáng cho đến 9 giờ tối. Mọi người được khuyên là “Bạn hãy ngủ cho thẳng giấc, thức dậy khi nào mình muốn. Hãy nhâm nhi tách cà phê, và ngồi ngắm khu vườn của bạn, nghe tiếng chim hót líu lo. Hãy đi ra ngoài nếu bạn thích, vào ăn trưa ở một restaurant nào mà bỗng dưng bạn muốn. Còn nếu không, bạn có thể mời bè bạn đến nhà làm BBQ. Bạn cũng có thể chạy xe đạp một vòng thành phố, hay nằm dài trên bãi cỏ của một công viên gần nhà.” vân vân và… vân vân.

Tóm lại, chính phủ khuyến khích người dân: “Hãy enjoy từng phút giây hạnh phúc, bình an của… một ngày không vội vã. Hãy biết sống và tận hưởng Hạnh phúc ở quanh ta”, như lời của một người phóng viên trên đài tivi đang nói.

Rồi còn có các màn phỏng vấn vài người dân, hỏi xem họ dự định sẽ làm gì trong cái ngày đặc biệt này trong năm, thì đa số câu trả lời đều là “spend time với gia đình, người thân”.

Có một cảnh trên màn hình làm tôi nhớ mãi. Hình ảnh một cụ già tóc bạc phơ, lụm cụm trả lời phỏng vấn với nụ cười móm mém “Tôi luôn mong đợi và yêu nhất cái ngày này trong năm, vì đó là ngày duy nhất mà tất cả con cháu tôi không… bận rộn, chúng nó tề tựu đông đủ để họp mặt với tôi. Cám ơn chính phủ, cám ơn ân nhân nào đã đặt ra cái ngày ý nghĩa này… “

Thế là bỗng dưng tôi đổi ý. Tôi bảo gia đình “Hôm nay là ngày đặc biệt, vậy thôi mình làm chương trình gì special đi nhe!”

Thế là cả nhà nhao nhao hưởng ứng, người thì bảo “khỏi nấu cơm, đi ăn tiệm cho khỏe”, kẻ thì nói “nhà hàng đông lắm, đi xuống downtown chơi”.

Em trai tôi thì muốn đi xe đạp (ở Montréal có rất nhiều bãi cho mướn xe đạp, bạn chỉ cần quẹt cái credit card vô là có thể lấy xe đạp đi ngay).

Mấy cháu nhỏ lại muốn đi tàu Bateau Mouche. Rồi lại có ý kiến đi câu cá, hay đi xe ngựa một vòng thành phố. Và thế là giơ tay biểu quyết. Cuối cùng thì đa số thắng thiểu số: đi xuống Vieux-port (khu phố cổ) chơi và sẽ đi tàu BateauMouche. Thế là chúng tôi lên đường, thảnh thơi, không vội vã…

Đường xuống phố đông nghẹt, và kẹt xe, thế mà không một xe nào bóp kèn. Thiên hạ ngồi trong xe, an nhiên chờ đợi, còn mở cửa kiếng xuống nhìn nhau cười, và vẫy tay “ No hurry! Be happy!” Tôi thật sự “thấm” được thế nào là ý nghĩa của 3 chữ “không vội vã”!

Đến chừng xếp hàng mua vé đi tàu, thì lại là một hàng thật dài, trong cái nắng gắt của mùa hè. Vậy mà ai ai cũng cười, cũng nói, cũng bắt tay, với cả những người… không quen biết. Dường như con người ở đây, ngày hôm nay, không ai bị stress cả. Cả một thế giới hòa bình, thanh thản quanh tôi…

Lúc bước xuống tàu, David, thằng cháu nhỏ 5 tuổi hối hả muốn chạy đến dành chỗ, thì bị Christina – cô cháu 4 tuổi, “chỉnh” ngay: “David! Bữa nay là ‘No hurry day’ mà, sao David cứ hurry hoài vậy?”, làm cả nhà cùng cười. Tôi cũng bật cười theo vì nhận thức dễ thương của cô bé này.

Trưa đến, đói bụng, chúng tôi ghé vô một nhà hàng Tàu. Lại đông nghẹt khách, nhưng ai ai cũng vui vẻ xếp hàng đợi đến lượt mình. Đang đứng chờ thì người bên cạnh tôi, một phụ nữ Quebécois bắt chuyện hỏi tôi đã làm gì ngày hôm nay. Tôi kể lại một ngày vui chơi với gia đình cùng các cháu. Bà cười, chỉ hai người con “Chồng tôi mất lâu rồi, năm nào vào ngày này, tôi cũng để tụi nó quyết định muốn đi đâu, làm gì… Cuộc sống mà, có gì mà phải vội vã…” Rồi bà tiếp “Như trưa nay nè, bỗng dưng con gái tôi thèm ăn món lẩu Tàu, thế là chúng tôi vô đây, xếp hàng, nghe nói nhà hàng này món nào cũng ngon lắm.”

Tôi gật đầu đồng ý và cảm thấy vui vui trong lòng…

Ăn no xong, thì đến chiều. Không ai muốn về nhà, thế là kéo nhau ra park chơi. Nhìn quanh, thiên hạ đông như kiến, tự dưng tôi thấy lòng mình vui chi lạ. Trải tấm chiếu trên bãi cỏ, tôi nằm xoải người, vươn vai một cái thật đã. Dường như hơn 10 năm sống trên đất Mỹ, tôi chưa hề có được cái “đã” nào như thế này. Cứ để mặc tụi nhỏ tha hồ chơi xích đu, cầu tuột, chạy chơi, la hét… tôi nằm đeo cặp mắt kính mát, tận hưởng từng làn gió thoảng qua một cách khoái chí, do… nothing, lim dim… ngẫm nghĩ sự đời. Kể cũng lạ, nhờ có cái ngày này, mà tôi mới nhận ra là hình như trong đời, tôi chưa hề bao giờ có được một ngày không vội vã.

Thật sự tôi phải cám ơn chính phủ Canada, hay cám ơn ân nhân “trí tuệ” nào đó, đã nghĩ ra cái ngày đặc biệt này trong năm, để giúp người dân biết trân quý sự thanh thản mà cuộc sống ban cho chúng ta… Bỗng dưng tôi chợt nhớ mới cách đây vài tuần, tôi tình cờ gặp lại cô bạn cũ hồi trung học, khi vô tiệm food to go ở Cali mua đồ ăn. Hai đứa chỉ kịp chào hỏi vài câu, thì cô bạn vội vã về đón con, còn tôi thì lật đật đi ra xe sợ trễ giờ làm. Cô bạn than “Sao cuộc sống tụi mình lúc nào cũng tất bật quá há, chỉ khi nào hết thở thì mới hết… bận rộn…” Tôi chỉ cười “Xứ Mỹ mà lị…” Cô bạn tự dưng hỏi xin địa chỉ email của tôi, rồi bảo rằng “sẽ email gửi cho bồ một bài ý nghĩa lắm”, rồi cô cười nói thêm “nhưng đọc thì hay, mà làm có được hay không lại là chuyện khác…” Tối đó check mail, tôi nhận được ngay, với vài dòng nhắn nhủ “Bồ ráng cố gắng thực hành theo lời khuyên trong bài này nhé, còn mình thì… đời vẫn lăng xăng…” Tôi bật cười, và click vô đọc bài viết ngắn của cô bạn:

BẬN RỘN làm cho ta không có bình an và hạnh phúc. BẬN RỘN làm cho sự hành xả của ta vụng dại. BẬN RỘN làm cho cái hiểu biết của ta khô cằn. BẬN RỘN làn cho sự sống của ta ngắn lại. BẬN RỘN khiến ta không thấy được cái đẹp của người ta thương yêu. BẬN RỘN khiến ta đi trên đường như ma rượt… Đời sống bận rộn là đời sống bất hạnh nhất trên đời…!

Thế đấy, nhưng con người ai ai cũng luôn tìm đủ mọi lý do để mà… BẬN RỘN.

Và rồi một ngày kia, thử hỏi có ai mang theo được cái “BẬN RỘN” về bên kia thế giới?

Hãy biết dừng lại
Hãy biết ngơi nghỉ
Hãy tập thanh than
và buông xả, thảnh thơi…

thì khi cái ngày ấy đến, chúng ta mới có thể ra đi với cái tâm… KHÔNG… BẬN RỘN…!!!

Đúng thật, cả một đời tôi luôn sống quá vội vàng, thì làm sao có thể ra đi bình an? Một lần nữa, xin cám ơn cái ngày đặc biệt này, đã giúp tôi có một cái nhìn mới, khác hơn về cuộc sống…

Tự dưng tôi nhớ đến hai cô bạn thân. Cô bạn đạo Chúa thì chủ nhật nào cũng đi nhà thờ, hễ rảnh là đọc cuốn Thánh kinh nhỏ lúc nào cũng kè kè trong bóp. Cô hay nói với tôi: “Chúng ta nên làm theo lời dạy của Ngài, thì lúc ra đi, mình sẽ được lên Thiên đàng với Chúa.”

Nhỏ bạn đạo Phật thì hễ rảnh là đến chùa, niệm Phật, nó nói với tôi: “Ở lành, giữ ngũ giới, làm từ thiện, thì chắc chắn sẽ được về với Phật…” Còn giờ phút này, tôi hiểu ra một điều: Nếu như chúng ta biết tự làm cho mỗi ngày của mình thành “MỘT NGÀY KHÔNG VỘI VÔ, thì chúng ta sẽ có được 365 ngày một năm đang sống ở Thiên đàng, hay Niết bàn rồi đó…

Chúc mỗi người trong cuộc đời, luôn có được những ngày… không vội vã…

Thu tiền xem xiếc

Một câu chuyện có thật ở Hà Nội. Trường mầm non nọ thu 40.000 đồng/học sinh để tổ chức cho các cháu xem xiếc, nhưng vì không phải tất cả cùng đóng nên các cô bắc loa yêu cầu cháu nào không đóng tiền thì phải ngồi trong lớp. Và những đứa trẻ đã khóc…

Nguyên văn câu chuyện được một vị phụ huynh kể trên trang mạng xã hội thế này: “Nhân kỉ niệm ngày 2.9 trường mầm non T.M – A (Hà Nội) tổ chức cho các con xem xiếc tại sân trường. Chi phí phải đóng của mỗi con là 40 ngàn đồng. Phụ huynh các bạn nhỏ hồ hởi đóng góp cho con. Sáng 30.8, đoàn xiếc về trường, nhạc tưng bừng phấn khởi. Từ phòng giám hiệu, tiếng cô giáo trên loa tròn vành rõ chữ: Alo, alo, đề nghị các vị phụ huynh cho con khẩn trương vào trường ổn định chỗ ngồi vì sắp đến giờ biểu diễn. Để công bằng cho các em đã đóng tiền, đề nghị những em chưa đóng tiền ngồi nguyên trong lớp học không được ra sân.

Thảng thốt nghe đâu đó tiếng khóc, tiếng sụt sịt, tiếng xì mũi, tiếng nấc của những đứa trẻ mà bản thân chúng nó không hiểu sao bố mẹ không đóng nổi cho nó bốn chục ngàn…”

Tôi đã khóc khi biết câu chuyện này. Thật khó hình dung một ứng xử tàn nhẫn và lạnh lùng như thế lại xảy ra trong một trường mầm non ngay giữa thủ đô. Nó cho thấy trong nhà trường bây giờ, nhiều thầy cô, những bậc được tôn kính gọi là “kỹ sư tâm hồn” đã trở thành cái máy thật rồi. Những cỗ máy không có trái tim, vì nếu là người, ai lại làm như thế.

Tôi đặt ra trường hợp thế này, để thuê đoàn xiếc về trường biểu diễn cho trẻ xem, cần một số tiền là A, mặc dù không phải tất cả phụ huynh đều đóng tiền cho con (vì nhiều lý do, có thể quên hoặc gia đình không có điều kiện) nhưng trường cũng vẫn thu đủ số tiền là A. Bởi bằng chứng là vẫn có đoàn xiếc về trường diễn. Vậy thì tiếc gì một chỗ ngồi mà không cho tất cả con trẻ đều được ra xem?

Nếu đó là những giáo viên có tình người, tất cả các cháu đều được mời ra xem xiếc, mà không cần phải có một thông báo gì hết. Còn giả sử, có máy móc một tý, các cô vẫn có thể nói với các con rằng: “Mặc dù có những bạn không đóng tiền, nhưng các bạn khác đã đóng đủ tiền để cho tất cả các con được xem xiếc hôm nay. Các con hãy vỗ tay cảm ơn các bạn mình vì điều đó và nhớ rằng, trong cuộc sống, chia sẻ với người khác, niềm vui và hạnh phúc sẽ nhân lên”.

Vậy mà cả hai trường hợp đáng lẽ xảy ra đã không xảy ra, chỉ có một thông báo lạnh lùng: “Để công bằng cho các em đã đóng tiền, đề nghị những em chưa đóng tiền ngồi nguyên trong lớp học không được ra sân”. Than ôi, công bằng nào ở đây? Những đứa trẻ như búp non, vắt mũi còn chưa sạch thì chúng cần quái gì cái thứ công bằng gớm giếc xấu xí đó của người lớn?

Tôi cứ hình dung ra hoàn cảnh những đứa bé bị nhốt trong lớp học vào cái buổi diễn xiếc ấy mà thấy lòng đau thắt. Chúng khóc, hẳn nhiên rồi, làm sao những đứa bé non nớt ấy không khóc cho được khi thấy các bạn bè hò reo vui vẻ ngoài sân, còn chúng thì phải ngồi ở đây. Đứa bé bỏng chưa hiểu chuyện thì ngơ ngác, đứa lớn hơn một chút sẽ biết, vì cha mẹ chúng đã không nộp 40.000 đồng. Chao ôi, có khi nào đồng tiền bốc mùi tanh lạnh như lúc này không?

Mục đích cao cả nhất của giáo dục, theo tôi, không phải kiến thức mà là sự khai phóng và giúp con người ta hiểu thế nào là lòng nhân ái. Vậy mà trong nhà trường này, ở cấp học mà đối tượng học trò cần nâng niu nhất, lại ứng xử theo kiểu “tiền trao cháo múc”, ráo hoảnh lạnh lùng. Có tiền thì được phục vụ, còn không tiền thì xin mời nghỉ cho khỏe.

Những đứa bé ấy, lớn lên sẽ nghĩ gì, sẽ học được gì từ bài học đắt giá mà các giáo viên đã dạy cho chúng?, rằng trong cuộc đời này, chỉ có đồng tiền là tối thượng, còn lại tất cả đều vô nghĩa mà thôi.

Sự vô cảm chưa lúc nào lại tràn ngập khắp nơi trong xã hội này, đến mức có cảm giác, nhiệt độ dòng máu nóng ấm chảy trong cơ thể chúng ta, cứ mỗi ngày, mỗi ngày lại nguội đi một chút. Thấy người cơ nhỡ hoạn nạn không chút xót thương, thấy người làm một việc tốt lành tử tế thì ngay lập tức nghi ngờ, không biết nó có định bẫy gì mình không. Nhiều người trong chúng ta đang dần dần hóa đá mà không biết.

Câu chuyện về buổi xem xiếc trong trường mầm non này, tôi ước sao có thể đến được với các vị lãnh đạo của Sở Giáo dục Đào tạo Hà Nội, không phải để truy ra trường nào mà phê bình, trừng phạt. Chỉ cần các vị lấy đó làm một trường hợp cụ thể để cho các giáo viên thảo luận cùng nhau, chúng ta ứng xử như vậy đã đúng với tư cách của những người đang làm trong môi trường giáo dục, trồng người hay chưa. Chắc sẽ có ích cho các thế hệ tương lai nhiều lắm đấy.

Cái khó nhất và cần phải hướng tới trong xã hội này, không phải là một cuộc sống ngày càng no đủ, sung sướng phủ phê hơn mà chính là những ứng xử nhân văn, là tình người. Thiếu nó, mọi thứ vật chất chỉ là của phù vân bèo trôi nước nổi.

(Mi An)

Hãy đọc hết câu chuyện

Buc anh facebook3
Bức ảnh lan truyền trên mạng xã hội Facebook

Chủ nhân bức ảnh chú thích: “Bức ảnh này chụp vào trưa ngày 13/01/2014 tại quán cơm chay Thiên Phước 5000 đồng, địa chỉ 62 Nguyễn Chí Thanh, Phường 16, Quận 11 (TP.HCM). Một người đàn bà bán ve chai bước vào quán với bao gạo và chai dầu ăn. Chị mang ơn quán cơm này vì đã cứu chị rất nhiều bữa đói. Chị nghèo khó nhưng không quên ơn, gom góp từng đồng, cuối năm, chị dành mua 1 bao gạo và 1 chai dầu tặng lại quán để có thể giúp thêm những người khốn khó khác”.

 

Có lẽ đó là một trong những bức ảnh đẹp nhất về chân dung con người, trong hoàn cảnh đảo điên nhuộm nhoạm của xã hội ngày nay. Tôi cứ ngắm mãi khuôn mặt chị, đó là một người đàn bà chắc chắn đã trải qua rất nhiều khó khăn, đói khát. Một khuôn mặt điển hình của những người lao động vất vả ngoài đường.

Vậy mà trong khoảnh khắc ấy, chị thật đẹp. Vẻ đẹp tỏa ra từ bên trong, từ hành động cao cả, nghĩ đến người khác, những người khó khăn hơn mình, nên dù nghèo, chị vẫn gom nhặt từng đồng tiền lẻ để mua bằng được một bao gạo con con, một chai dầu ăn mang đến quán.

Trong cái thời buổi đồng tiền lên ngôi, tình người lạnh lẽo, lối sống ích kỷ lan tràn thì tấm lòng của người đàn bà bán ve chai lại càng đẹp hơn bao giờ hết. Nó cho thấy dù chị nghèo khó thật đấy, nhưng chị giàu có hơn vạn lần người khác, những người chưa một lần chìa tay ra san sẻ cho đồng loại.

Biết được câu chuyện này, chẳng phải chúng ta đang cảm thấy trái tim mình ấm áp, tâm hồn mình thư thái và hạnh phúc hay sao? Bởi người đàn bà bán ve chai ấy, chẳng ai biết tên chị là gì, giờ đang tá túc ở đâu, nhưng hành động của chị đã cho chúng ta có thêm niềm tin, rằng những người tốt và những tấm lòng cao cả ở đời còn nhiều lắm. Họ là con người đúng nghĩa với những điều tốt đẹp nhất của danh từ này.

Tôi tin những người như chị, nếu làm người bán hàng sẽ không bao giờ gian tham dối trá hay bớt xén của ai một đồng một hào nào. Nếu làm người công nhân, sẽ có trách nhiệm đến cùng với sản phẩm của mình. Nếu làm một công chức, sẽ cống hiến tận tâm cho xã hội.

Một cộng đồng muốn tốt đẹp thì không thể không dựa vào từng cá nhân tốt đẹp, một cái cây muốn tươi tốt, bền chắc thì phải có bộ rễ khỏe mạnh. Đạo đức là gốc rễ của mọi vấn đề. Tiếc là ngày nay, xã hội vì quá coi trọng đồng tiền nên đã xem thường nó, coi rẻ nó, khiến cho mọi thứ lộn xộn, đảo điên.

Người đàn bà bán ve chai vô danh ấy, có lẽ chẳng bao giờ hình dung ra những con số dài dằng dặc để ghi lại số tiền đã hóa hơi trong những đại án tham nhũng đang làm nghèo đất nước. Càng không bao giờ biết đến chuyện, để chạy chức và chạy án, các quan chức ngày nay xách đến nhà nhau hàng vali tiền mà người nghèo có đếm cả đời cũng không hết.

Chị chỉ quanh quẩn sáng tối với cái vỏ chai, mảnh giấy vụn. Hạnh phúc của chị chỉ là sau một năm làm ăn cần mẫn, mua được bao gạo, chai dầu đến cảm ơn quán cơm đã cứu đói chị và san sẻ tình thương cho những người đồng cảnh ngộ. Nhưng cuộc đời của chị, thanh sạch và đáng kính trọng biết bao nhiêu.

Những bài học lý thuyết về đạo đức, tình người sẽ không bao giờ khiến chúng ta thấm thía bằng hành động của người đàn bà bán ve chai ấy.

Cầu mong cho những tấm lòng cao cả ấy sẽ được tiếp nối, sẽ lan rộng ra để duy trì sự tốt đẹp và làm sáng thêm hai chữ “đạo nghĩa” trong đời sống này.

(E-mail được chuyển tiếp bởi KIM CHI <kchitran07@yahoo.com>)

Con trai tên cướp

ĐINH HƯƠNG, THEO HELINO 19:44 19/02/2018

Khi mất đi một người mà mình yêu thương, nỗi đau đó sẽ khiến cho trái tim chúng ta như bị xuyên thủng một lỗ lớn rất khó để có thể phục hồi. Những ký ức, những nỗi buồn đau có thể sẽ mãi mãi theo ta suốt cuộc đời này.

Với bà cụ 78 tuổi Tona Herndon, sống tại bang Oklahoma, Mỹ, ngày mà chồng bà qua đời cũng là khi cuộc sống của bà hoàn toàn vỡ vụn. Sau hơn 60 năm kết hôn, sự ra đi của ông làm cho bà Tona vô cùng suy sụp và cô đơn. Mỗi ngày cho dù có mệt mỏi đến mấy, bà đều đến thăm mộ của ông và đó là điều duy nhất có thể giúp cho bà cảm thấy thoải mái hơn.

Một vài tuần sau đám tang, cũng như mọi hôm bà Tona đi ra mộ để thăm và nói chuyện với chồng quá cố. Thế nhưng buổi viếng mộ ngày hôm đó rất nhanh chóng trở thành một trải nghiệm kinh khủng với bà. Trong lúc bà Tona đang đứng trước mộ chồng thì bất ngờ có một người lạ mặt áp sát bà từ phía sau. Tên cướp to khỏe nhanh tay cướp lấy chiếc túi xách của người quá phụ và tẩu thoát khỏi hiện trường. Bà Tona vừa hoảng loạn vừa sợ hãi và tuyệt vọng, có kẻ nào tồi tệ đến mức đi cướp của bà già yếu đuối ngay trong nghĩa trang cơ chứ?

Tuy nhiên, cuộc sống đời thực đôi khi lại lạ lùng hơn những câu chuyện cổ tích rất nhiều. Giống như những điều sắp xảy ra sau vụ cướp đó lại là mở đầu cho một cậu chuyện tươi sáng và tràn đầy tình người. Tên cướp không lâu sau bị cảnh sát tóm cổ. Bức hình của hắn được công bố rộng rãi khắp các bản tin tức. Nhiều tờ báo địa phương cũng chỉ trích cho rằng vụ tấn công đối với bà Tona là một sự hèn nhát không thể chấp nhận. Khoảng 1 tuần sau đó, một cậu bé 15 tuổi bất ngờ liên lạc với bà Tona và đưa ra một lời đề nghị lạ lùng.

Christian Lunsford chính là con trai của tên cướp, Shane Lunsford. Sau khi thấy hình ảnh của bố mình được đăng ở mọi nơi, cậu bé cảm thấy vô cùng xấu hổ cũng như phẫn nộ với việc xấu xa ông đã làm. Được biết Shane từng nhiều lần gặp rắc rối với cảnh sát và lần này, hắn ta cướp được số tiền là 700 USD từ trong túi của bà Tona. Cậu bé Christian gọi điện cho bà Tona, hy vọng bà đồng ý gặp mình tại bãi đậu xe gần một nhà thờ địa phương. Cậu muốn thay bố để trực tiếp nói lời xin lỗi với bà.

Bố mẹ Christian đã ly thân từ khi cậu mới 2 tuổi đầu và từ đó trở đi, ông bố này chẳng mấy khi xuất hiện trong đời cậu bé. Và mặc dù có một người bố tồi tệ đến mấy, thật may mắn sự lương thiện trong Christian chưa bao giờ bị ảnh hưởng. Cuộc đời tội lỗi của Shane thực tế càng khiến cho Christian muốn làm điều hoàn toàn ngược lại.

“Điều này cần được thực hiện”, Christian nói. “Bà ấy cần một câu xin lỗi từ ai đó. Nếu tôi không xin lỗi thì còn ai vào đây?”.

Bà Tona đồng ý gặp mặt Christian vào một buổi chiều, nhưng thứ mà bà không ngờ được đó là ngoài lời xin lỗi, cậu bé còn đưa cho bà 250 USD xem như trả bớt khoản tiền mà Shane đã cướp của bà. Đó cũng là khoản tiền cậu bé dùng để đóng cho chuyến đi cùng với trường học.

Con trai ten cuop

“Tôi nghĩ rằng chuyện thằng bé làm là vô cùng đáng trân trọng”, Tona nói. “Bất kỳ cậu bé 15 tuổi nào mà có lương tâm đến như vậy đều là một chuyện phi thường”.

Với sự biết ơn và trân trọng sâu sắc, bà Tona quyết định trả lại toàn bộ số tiền cho Christian. Tona cho biết đó là tiền của bà nên bà có toàn quyền quyết định sử dụng thế nào. Và thứ mà Tona muốn chính là cậu thiếu niên có thể tham dự vào chuyến đi của trường mình.

Ngày hôm đó, dù không có khoản tiền bồi thường nào được trao nhưng đối với cả Tona và Christian, họ nhận được một giá trị tuyệt vời trong cuộc sống.

“Tôi cảm thấy mình vẫn còn có những mục đích sống”, Tona nói.

“Bạn không phải là bản sao của bố mẹ bạn”, Christian khẳng định. “Cho dù họ nuôi nấng bạn ra sao, bạn mới là người quyết định bạn sẽ trở thành người như thế nào”.

HẾT

Người sưu tập: Diệp Minh Tâm

 

Phát biểu trước Liên Hiệp Quốc – Malala Yousafzai

Lần đầu tiên cô nữ sinh Malala Yousafzai (1997- ), người Pakistan, được công chúng biết đến là vào năm 2009, sau khi cô viết blog với bút danh Gul Makai cho hãng BBC kể về cuộc sống dưới chế độ Taliban và quan điểm của cô về việc giáo dục cho nữ giới. Vào thời gian này, quân Taliban đang kiểm soát nơi sinh sống của cô (Thung lũng Swat thuộc miền bắc Pakistan), cấm đoán việc giáo dục cho nữ giới, phá hủy nhiều trường học dành riêng cho nữ.

Sau bài viết blog ấy, Malala bắt đầu được báo chí và truyền hình phỏng vấn và được nhiều người biết đến quan điểm của cô cổ vũ cho việc giáo dục nữ giới. Cô cũng kể lại việc một số học trò nữ bỏ học vì e sợ Taliban, số còn lại không dám mặc đồng phục của trường khi đi học để tránh bị chú ý.

Ngày 9 tháng 10 năm 2012, hai tay súng Taliban chặn chiếc xe buýt chở Malala từ trường về nhà, xả súng bắn vào cô. Sau cuộc cứu cấp và giải phẫu ban đầu, Malala được chuyển đến một bệnh viện ở Anh để được tiếp tục điều trị.

Vụ ám sát làm dấy lên làn sóng phẫn nộ nhiều nơi đối với Taliban và sự ủng hộ đối với Malala.

Vào tháng 3 năm 2013, nguyên Thủ tướng Anh quốc Gordon Brown tổ chức một Ngày Tin tức trên đài BBC. Vào ngày này, nhiều nữ sinh được mời đến để tường thuật và bình luận trên sóng phát thanh về những hoàn cảnh bất bình đẳng đối với nữ giới.

Malala được vinh danh như sau:
  *  Giải thường Hòa bình Quốc gia của Pakistan năm 2012 – sau đó được đổi tên thành Giải thường Hòa bình Quốc gia Malala.
  *  Một trong số 100 người tạo ảnh hưởng mạnh nhất trên thế giới năm 2013 (Tuần báo TIME).
  *  Giải thưởng Sakharov năm 2013 về tự do ngôn luận.
  *  Ở tuổi 17, Malala là người trẻ nhất trong lịch sử nhận Giải Nobel Hòa bình.

 

 

Malala được cho là người đã khơi gợi mối quan tâm toàn cầu đối với việc cho trẻ em đi học. Đúng vào sinh nhật tròn 16 tuổi, ngày 12 tháng 7 năm 2013 – mà Liên Hiệp Quốc gọi là “Ngày Malala” – Malala được mời phát biểu ở trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York, trong một Đại hội đồng giới Trẻ (Youth Assembly). Đây là lần đầu tiên cô phát biểu trước công chúng trở lại sau khi bị Taliban bắn trọng thương. Cử tọa cũng bao gồm khoảng 500 thanh thiếu niên nam nữ trong độ tuổi 12-25 đến từ khắp nơi trên thế giới.

Bài phát biểu được vỗ tay hoan hô nhiều lần khi Malala nhấn mạnh yêu cầu cho trẻ gái được đi học, trong bối cảnh một phần tư phụ nữ trẻ, khoảng 1 tỉ người, chưa học hết cấp cơ sở.

Vinh danh Thượng Đế, Đấng Nhân từ nhất, Đấng Khoan dung nhất,

Kính thưa Ngài Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon,

Kính thưa Ngài Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc Vuk Jeremic,

Kính thưa Ngài Đặc sứ Giáo dục Toàn cầu Liên Hiệp Quốc Gordon Brown,

Thưa anh chị em quý mến,

Ngày hôm nay, sau một thời gian dài tôi có vinh dự được phát biểu trở lại. Được hiện diện ở đây cùng với những nhân vật danh giá như thế này là thời khắc tốt đẹp nhất trong đời tôi. Và cũng là một vinh dự cho tôi ngày hôm nay khi tôi đang mang khăn choàng đầu [lấy tay sờ mép khăn choàng] của Bà Benazir Bhutto quá cố.

Malala
Malala trước LHQ. Tận cùng bên trái là Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-Moon

 

Tôi không biết phải bắt đầu bài phát biểu của mình ra sao. Tôi không biết mọi người đang trông chờ tôi sẽ nói những gì. Nhưng trước nhất, tôi xin tạ ơn Thượng Đế vì nhờ Người mà tất cả chúng ta đều bình đẳng, và xin cảm ơn tất cả những ai đã cầu nguyện cho tôi được chóng bình phục và bắt đầu cuộc sống mới. Tôi không thể tin được người ta đã tỏ lòng thương đối với tôi như thế nào. Tôi nhận được hàng nghìn tấm thiệp chúc và quà tặng từ khắp nơi trên thế giới. Tôi xin cảm ơn tất cả những người ấy. Tôi cảm ơn những trẻ em có ngôn từ chân chất động viên tôi. Tôi xin cảm ơn những người lớn với lời cầu nguyện tạo thêm nghị lực cho tôi. Tôi muốn cảm ơn các điều dưỡng, bác sĩ và toàn thể nhân viên các bệnh viện ở Pakistan, Vương quốc Anh và các Tiểu Vương quốc Á Rập Thống nhất giúp tôi được bình phục và lấy lại sức lực.

Tôi ủng hộ hoàn toàn Ngài Ban Ki-moon, Tổng Thư ký, trong Sáng kiến Thứ Nhất của ông ấy về Giáo dục Toàn cầu, công lao của Ngài Đặc sứ Giáo dục Toàn cầu Liên Hiệp Quốc Gordon Brown, và Ngài Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Vuk Jeremic. Tôi cảm tạ các vị về sự lãnh đạo mà các vị vẫn tiếp tục thực hiện. Ba người vẫn tiếp tục là niềm hứng khởi cho tất cả chúng ta hành động.

Thưa anh chị em quý mến,

Hãy nhớ đến một điều: Ngày Malala không phải là ngày của tôi. Hôm nay là ngày của tất cả phụ nữ, tất cả con trai và tất cả con gái – những người cất lên tiếng nói cho quyền của mình. Có hàng trăm người hoạt động về nhân quyền và các nhà công tác xã hội không chỉ đang cất tiếng nói cho quyền của mình, mà họ còn đang tranh đấu nhằm đạt đến những mục tiêu về hòa bình, giáo dục và bình đẳng. Hàng nghìn người bị các kẻ khủng bố giết chết và hàng triệu người bị thương. Tôi chỉ là [lắc đầu] một người trong số đó.

Thế là tôi đứng đây… Thế là tôi đứng đây, một đứa con gái trong số nhiều con gái khác. Tôi phát biểu không phải cho tôi, mà cho những người có tiếng nói không được nghe đến. Những người chiến đấu cho quyền của họ. Quyền được sống trong an bình. Quyền được đối xử bằng phẩm giá. Quyền được hưởng bình đẳng về cơ hội. Quyền được đi học.

Thưa các bạn,

Vào ngày 9 tháng 10 năm 2012, người Taliban bắn trúng màng tang bên trái của tôi. Họ cũng bắn các bạn tôi. Họ nghĩ rằng các viên đạn sẽ làm cho chúng tôi phải câm nín. Nhưng họ thất bại. Từ sự câm nín đó, hàng nghìn tiếng nói cất lên. Những người khủng bố nghĩ họ sẽ thay đổi đích nhắm của chúng tôi và chặn đứng những kỳ vọng của chúng tôi, nhưng không có gì thay đổi trong cuộc đời của tôi ngoại trừ điều này: Sự yếu mềm, sợ hãi và tuyệt vọng chấm dứt. Nghị lực, sức mạnh và lòng dũng cảm khởi sinh. [vỗ tay] Tôi vẫn là Malala. Những kỳ vọng của tôi vẫn là như xưa. Những hy vọng của tôi vẫn là như xưa. Và những ước mơ của tôi vẫn là như xưa.

Thưa các anh chị, tôi không chống lại ai cả. Tôi đến đây không phải để nói ra ý trả thù cá nhân chống lại người Taliban hoặc bất kỳ nhóm khủng bố này. Tôi đến đây để phát biểu cho quyền được giáo dục của tất cả trẻ em. [vỗ tay] Tôi muốn có nền giáo dục cho các con trai và con gái của người Taliban, của tất cả những kẻ khủng bố và người cực đoan.

Thậm chí tôi còn không oán ghét tay súng Taliban đã bắn tôi. Cho dù có một khẩu súng trong tay tôi và anh ta đứng trước mặt tôi, tôi sẽ không bắn anh ta. Đấy là lòng trắc ẩn mà tôi học từ Muhammad – Đấng Tiên tri nhân từ – , Chúa Giê-su và Đức Phật Thích ca. Đấy là di sản của sự thay đổi mà tôi thừa hưởng từ Martin Luther King, Nelson Mandela và Muhammad Ali Jinnah. [vỗ tay] Đấy là triết lý bất bạo động mà tôi lĩnh hội từ Gandhi, Bacha Khan và Mẹ Teresa. Và đấy là lòng bao dung mà tôi học từ cha tôi và từ mẹ tôi. [vỗ tay] Đấy là những gì tâm hồn tôi bảo tôi: hãy tỏ ra an bình và thương yêu mọi người.

Thưa các anh chị quý mến,

Khi thấy bóng tối, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của ánh sáng. Khi bị buộc phải câm nín, chúng ta nhận ra nhận ra tầm quan trọng của tiếng nói. Theo cùng cách ấy, vào thời gian chúng tôi sống ở Swat, miền bắc Pakistan, khi trông thấy súng, chúng tôi nhận ra tầm quan trọng của bút giấy.

Câu nói hiền triết tỏ ra rất đúng: “Ngòi bút mạnh hơn lưỡi gươm”. Những kẻ cực đoan đã từng e sợ và vẫn còn e sợ giấy bút. Sức mạnh của nền giáo dục làm cho họ e sợ. Họ kiêng dè phụ nữ. Sức mạnh của tiếng nói phụ nữ làm cho họ e sợ. Đấy là lý do tại sao họ giết 14 học sinh vô tội trong cuộc tấn công gần đây ở Quetta. Đấy là lý do tại sao họ giết các cô giáo và nhân viên phòng chống bệnh bại liệt ở Tỉnh Khyber Pukhtoon Khwa[1]. Đấy là lý do tại sao hằng ngày họ tàn phá trường học. Bởi vì họ e sợ và vẫn còn e sợ sự thay đổi, e sợ sự bình đẳng mà chúng ta sẽ thiết lập trong xã hội của chúng ta.

Tôi nhớ có một cậu con trai trong trường học của tôi, được một ký giả hỏi: “Tại sao Taliban chống lại nền giáo dục?” Cậu ấy trả lời thật đơn giản. Chỉ vào một quyển sách của mình, cậu ấy đáp: “Người Taliban không đọc được trong quyển sách này viết những gì”. Họ nghĩ rằng Thượng Đế là một thể bảo thủ nhỏ nhoi lùa con gái xuống địa ngục chỉ vì cái tội đã đi học. Các kẻ khủng bố ấy đang lạm dụng danh nghĩa của xã hội Hồi giáo và Pashtun[2] để mưu cầu lợi ích cho riêng họ. [vỗ tay]

Pakistan là quốc gia dân chủ, yêu hòa bình. Người Pashtun muốn con gái và con trai của họ được đi học. Hồi giáo là một tôn giáo của hòa bình, nhân văn và tình huynh đệ. Hồi giáo dạy rằng cho trẻ đi học không những là quyền, mà còn là bổn phận và trách nhiệm.

Thưa Ngài Tổng Thư ký,

Giáo dục cần có hòa bình. Ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Pakistan và Afghanistan, chủ nghĩa khủng bố, chiến tranh và xung đột ngăn chặn trẻ em đến trường. Chúng tôi thật sự chán ngán những cuộc chiến này. Phụ nữ và trẻ em trên nhiều phần đất của thế giới đang chịu đau khổ theo nhiều cách khác nhau. Ở Ấn Độ, trẻ em ngây thơ và nghèo khó là nạn nhân của việc buôn bán trẻ em. Trải qua nhiều thập kỷ, người dân Afghanistan đang chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cực đoan. Trẻ em gái phải làm lao động việc nhà nặng nhọc, và bị ép buộc lấy chồng ở tuổi rất trẻ. Cả nam và nữ đều đối diện với những vấn nạn chính của nghèo đói, thất học, bất công, chủ nghĩa kỳ thị và bị tước mất những quyền cơ bản.

Thưa các anh chị em,

Ngày hôm nay, tôi đặt trọng tâm vào quyền của phụ nữ và giáo dục cho trẻ gái bởi vì họ là những người chịu đau khổ nhiều nhất. Đã có lúc các nhà hoạt động nữ yêu cầu đàn ông đứng lên tranh đấu cho họ. Nhưng đến lúc này, chính chúng ta phải làm việc đó. [vỗ tay và tiếng cổ vũ] Ý tôi không muốn nói đàn ông đừng lên tiếng tranh đấu cho quyền của phụ nữ nữa, mà tôi có ý đặt trọng tâm vào việc phụ nữ tỏ ra độc lập và tranh đấu cho chính mình.

Thế thì, thưa các anh chị em, bây giờ là lúc chúng ta phải lên tiếng.

Vì thế, ngày hôm nay chúng ta kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới thay đổi những chính sách chiến lược của họ nhằm hướng về hòa bình và thịnh vượng.

Chúng ta kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới có biện pháp bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em. Bất kỳ biện pháp nào chống lại quyền của phụ nữ đều không được chấp nhận. [vỗ tay]

Chúng ta kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới đảm bảo nền giáo dục miễn phí, bắt buộc trên toàn thế giới cho tất cả trẻ em. [vỗ tay]

Chúng ta kêu gọi tất cả các chính phủ chiến đấu chống lại chủ nghĩa khủng bố, nhằm bảo vệ trẻ em tránh bạo lực và làm hại.

Chúng ta kêu gọi các nước phát triển hỗ trợ sự mở rộng những cơ hội giáo dục cho trẻ gái ở các nước đang phát triển.

Chúng ta kêu gọi tất cả các cộng đồng tỏ ra khoan dung, chối bỏ định kiến dựa trên giai cấp, tín điều, giáo phái, màu da, tôn giáo, cương lĩnh, nhằm đảm bảo tự do và bình đẳng cho phụ nữ hầu họ có thể thăng tiến. Tất cả chúng ta không thể thành công khi nửa số người trong chúng ta bị kiềm nén.

Chúng ta kêu gọi các chị em trên toàn thế giới hãy tỏ ra dũng cảm, nhằm tập trung nghị lực mà phát huy mọi tiềm năng.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta đòi hỏi trường học và nền giáo dục cho tương lai tươi sáng của tất cả trẻ em. Chúng ta sẽ tiếp tục cuộc hành trình cho tới đích nhắm là hòa bình và giáo dục. Không ai có thể ngăn chặn chúng ta. Chúng ta sẽ cất tiếng nói cho quyền của chúng ta và chúng ta sẽ mang đến thay đổi do tiếng nói của chúng ta. Chúng ta tin tưởng nơi quyền lực và sức mạnh của ngôn từ chúng ta. Ngôn từ chúng ta có thể thay đổi cả thế giới bởi vì chúng ta hợp sức với nhau, đoàn kết lại vì sự nghiệp giáo dục. Nếu chúng ta muốn đạt đến mục đích thì phải tự trang bị với vũ khí của tri thức, phải tự che chắn bằng sự kết đoàn và kề vai sát cánh bên nhau.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta không nên quên rằng hàng triệu trẻ em không được đi đến trường. Chúng ta không nên quên rằng các anh chị em của chúng ta đang mong chờ một tương lai tươi sáng, an bình.

Vì thế, chúng ta hãy phát động một cuộc đấu tranh quang vinh chống lại thất học, nghèo đói và chủ nghĩa khủng bố. Chúng ta hãy cầm lấy giấy bút, đó là những vũ khí mạnh mẽ nhất.

Giáo dục là giải pháp duy nhất. Giáo dục phải đi đầu.

Xin cảm ơn. [cử tọa đứng dậy vỗ tay lên tiếng cổ vũ]

Diệp Minh Tâm dịch từ bản ghi hình – YouTube – http://www.youtube.com/watch?v=KtprX8i2k-Q

 

Chú thích

[1] Khyber Pukhtoon Khwa: một trong 4 tỉnh của Pakistan, ở miền tây-bắc nước này.

[2] Pashtun: dân tộc chính yếu của Afghanistan, cũng được gọi là dân tộc Afghan. Cả Taliban lẫn người theo chính phủ Afghanistan hiện nay đa phần là người Pashtun, và người Pashtun cũng là một dân tộc quan trọng ở Pakistan.

“Hãy cùng nhau tận hưởng mùa xuân mới” – Bill Clinton

William Jefferson Clinton (1946- ) là tổng thống thứ 42 của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1993-2001, trước đó là Thống đốc Bang Arkansas. Ông thành lập Quỹ William J. Clinton nhằm hỗ trợ những dự án quốc tế trong các lĩnh vực ngăn chặn bệnh AIDS và sự nóng lên toàn cầu.

Sau khi hoàn tất hai nhiệm kỳ tổng thống, ông nhận được tỷ lệ chấp nhận cao nhất trong số các tổng thống Mỹ kể từ Thế chiến II, và ông luôn được đánh giá cao trong các cuộc thăm dò ý kiến công chúng Mỹ.

Ngày 11 tháng 7 năm 1995, Tổng thống Clinton thông báo bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

Tạp chí Foreign Policy bình chọn Bill Clinton và vợ, Hillary Clinton, cùng đứng hạng 3 trong số 100 “Khối óc Toàn cầu” năm 2012.

Bill Clinton là Tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm đầu tiên viếng thăm chính thức Việt Nam từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 11 năm 2000, tạo nên một cột mốc quan trọng trong bang giao Việt-Mỹ.

Tạp chí Newsweek bình luận: “Có vẻ như vượt qua quá khứ và tạo nên lịch sử là hai việc trong chương trình hành động của ông Clinton những ngày này”.

Và cũng có vẻ như Tổng thống Clinton chuẩn bị kỹ càng cho chuyến đi này, vì bài đáp từ của ông trong buổi chiêu đãi của Chủ tịch Trần Đức Lương tối 17 tháng 11 năm 2000 tạo ra một số ngạc nhiên thích thú. Ông nhắc đến câu nói của Nguyễn Trãi, thời trang áo dài, việc bảo tồn phố cổ Hà Nội, việc in ấn tác phẩm Hồ Xuân Hương ở Mỹ..., và lại còn lẩy Kiều! Ông trích hai câu trong Truyện Kiều mà không phải người Việt nào cũng biết, hai câu khá thích hợp trong bối cảnh.

Kính thưa Chủ tịch nước Trần Ðức Lương,

Kính thưa Bà Lương,

Kính thưa quý vị đại biểu của Chính phủ Việt Nam,

Thưa Quý Bà và Quý Ông,

Tôi xin cảm tạ sự đón tiếp mà quý vị đã dành cho tôi, gia đình tôi và toàn thể phái đoàn Mỹ.

Chúng tôi lấy làm vinh dự được cùng quý vị viết nên một chương mới trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, và chúng tôi lấy làm cảm kích vì chương sử mới này có một khởi đầu tốt đẹp. Vâng, lịch sử mà chúng ta để lại phía sau là rất đau buồn và nặng nề. Chúng ta không được quên nó, nhưng chúng ta cũng không được để nó chi phối chúng ta. Quá khứ chỉ đến trước tương lai, chứ không quyết định tương lai.

Tran Duc Luong-Clinton
Chủ tịch Trần Đức Lương và Tổng thống Bill Clinton duyệt đội quân danh dự

 

Hôm nay, Mỹ và Việt Nam đang tạo ra một trang sử mới. Thế hệ sau sẽ nhìn lại thời điểm này và thấy những cựu chiến binh Mỹ quay trở lại Việt Nam tìm kiếm câu trả lời về quá khứ, và thấy những người Việt Nam chấp nhận họ để xây dựng một tương lai chung. Họ sẽ thấy những sinh viên trẻ của Việt Nam háo hức muốn hấp thụ tất cả những gì thế giới cống hiến, và cũng thấy những người Mỹ trẻ đến đây để cùng học hỏi với họ. Họ sẽ thấy những doanh nhân, nhà khoa học, nhà bảo tồn và nghệ sĩ đúc nên những mối liên kết giữa Việt Nam và thế giới.

Nói tóm lại, người ta sẽ nhìn lại và đi đến một kết luận mà Nguyễn Trãi, chính khách vĩ đại của Việt Nam, đã từng nói 500 năm trước: “Sau rất nhiều năm chiến tranh, chỉ có cuộc sống là tồn tại.”

Ngày nay, nhân dân hai nước chúng ta cùng đối mặt với một thế giới nhiều thay đổi và một cuộc sống nhiều thay đổi theo, với những khát vọng cơ bản giống nhau, và với cả những lo lắng giống nhau. Làm thế nào chúng ta có thể nắm bắt được những cơ hội của nền kinh tế toàn cầu mà vẫn tránh được xáo động của nó? Làm thế nào chúng ta có thể mở cửa đón những ý tưởng mới trong khi vẫn bảo vệ được truyền thống của chúng ta, nền văn hóa của chúng ta, lối sống của chúng ta?

Toàn cầu hóa đang mang thế giới đến với Việt Nam, và cũng mang Việt Nam đến với thế giới. Các bộ phim về cuộc sống ở Việt Nam, từ phim Mùi đu đủ xanh đến phim Ba mùa, đang giành giải thưởng trên toàn địa cầu. Các bức tranh của họa sĩ Việt Nam Ðỗ Quang Em có giá trị cao tại các cuộc triển lãm nghệ thuật quốc tế. Các bài thơ 200 năm tuổi của Hồ Xuân Hương đang được xuất bản ở Mỹ – bằng Anh văn, Việt văn, và cả chữ Nôm nguyên thủy, là lần đầu tiên một bản thảo cổ của Việt Nam được in ấn. Các nhà thiết kế thời trang như Armani và Calvin Klein sáng tạo những bộ sưu tập mới dựa trên trang phục truyền thống của Việt Nam, chiếc áo dài. Người Mỹ đang thưởng thức sả, tỏi, ngay cả mướp đắng, và nhân tiện tôi xin nói luôn: tất cả được trồng tại một trang trại của người Việt ở Virginia, chỉ cách Nhà Trắng 20 phút lái xe.

Thưa Ngài Chủ tịch,

Toàn cầu hóa cũng có nghĩa là trên Internet, người Mỹ có thể đọc những tin tức tài chính mới nhất của Việt Nam, hoặc biết đến những thử thách trong việc bảo tồn khu phố cổ Hà Nội, hoặc ủng hộ các tổ chức đang xúc tiến bảo tồn các chủng loài mới được tìm thấy ở cao nguyên miền Trung. Toàn cầu hóa cũng có nghĩa là chúng tôi có thể tải xuống phông chữ Việt văn. Quả thật, chẳng bao lâu nữa, những công nghệ dịch thuật hiện đại sẽ làm cho Internet trở thành một lực lượng đa ngôn ngữ, chứ không phải là thuần nhất.

Khi chúng ta mở rộng các cánh cửa, chúng ta không chỉ tiếp nhận tư tưởng mới. Chúng ta còn cống hiến tài năng và tính sáng tạo của nhân dân chúng ta. Chỉ sau một ngày trên đất nước của quý vị, tôi tin chắc rằng sẽ không có gì ngăn cản người dân Việt Nam giành lấy cơ hội phát huy tiềm năng tràn đầy của mình. Nhân dân Hoa Kỳ vui mừng vì đã đến lúc chúng ta có thể trở thành đối tác với nhau.

Như Truyện Kiều báo trước:
Sen tàn, cúc lại nở hoa
     Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân.

Bây giờ, những hình ảnh băng giá của quá khứ bắt đầu tan chảy. Những phác họa của một tương lai ấm áp chung bắt đầu hình thành. Chúng ta hãy cùng nhau tận hưởng mùa xuân mới này.

Tôi yêu cầu quý vị cùng tôi nâng cốc chúc mừng Ngài Chủ tịch Nước, chúc mừng Bà Lương, chúc mừng nhân dân của đất nước vĩ đại này, và chúc mừng tình hữu nghị tương lai của chúng ta.

Diệp Minh Tâm dịch từ bản Anh văn: US-Vietnam Trade Councilhttp://www.usvtc.org/httpdocs%202/People/Clinton/ct11.17.htm

Diễn văn lễ tưởng niệm vụ nổ bom Oklahoma – Bill Clinton

William Jefferson Clinton (1946- ) là tổng thống thứ 42 của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1993-2001, trước đó là Thống đốc Bang Arkansas. Ông thành lập Quỹ William J. Clinton nhằm hỗ trợ những dự án quốc tế trong các lĩnh vực ngăn chặn bệnh AIDS và sự nóng lên toàn cầu.

Sau khi hoàn tất hai nhiệm kỳ tổng thống, ông nhận được tỷ lệ chấp nhận cao nhất trong số các tổng thống Mỹ kể từ Thế chiến II, và ông luôn được đánh giá cao trong các cuộc thăm dò ý kiến công chúng Mỹ.

Tạp chí Foreign Policy bình chọn Bill Clinton và vợ, Hillary Clinton, cùng đứng hạng 3 trong số 100 “Khối óc Toàn cầu” năm 2012.

Lúc 9 giờ 02 ngày 19 tháng 4 năm 1995, khoảng 2.500 kg thuốc nổ chất trong một chiếc xe bán tải làm sụp đổ tòa nhà mang tên Alfred P. Murrah ở Thành phố Oklahoma, sát hại 168 người trong số đó có 19 trẻ em, và làm hơn 680 người bị thương. Tòa nhà này là nơi làm việc của khoảng 550 nhân viên của các cơ quan có liên hệ đến bảo hiểm xã hội, rượu, thuốc lá và vũ khí, bài trừ ma túy, tuyển quân, và cũng có một nhà giữ trẻ.

Ngày 19 tháng 4 năm 1995, bốn ngày sau vụ nổ, Tổng thống Bill Clinton cùng bà vợ Hillary tham dự lễ tưởng niệm ở Thành phố Oklahoma và đọc bài diễn văn này. Qua giọng nói trầm buồn và sự hùng biện có chừng mực, Clinton được xem như đã thành công trong sự nâng đỡ tinh thần gia đình các nạn nhân. Clinton còn khéo léo viện dẫn lời của vợ chồng Thống đốc Bang Oklahoma, lời của một nạn nhân trong một vụ khủng bố khác, và lời của một trẻ nhỏ đề cập đến vụ nổ ở Thành phố Oklahoma, qua đó ông liên kết tinh thần người dân Mỹ với nhau.

Bài diễn văn này được đánh giá như sau:
*  Một trong 100 bài diễn văn chính trị quan trọng nhất của nước Mỹ trong Thế kỷ 20 (trang mạng AmericanRhetoric).
*  Một trong 25 bài diễn văn chính trị hàng đầu mọi thời đại (báo The Telegraph, Anh quốc).

Cảm ơn quý vị rất nhiều.

Thưa Thống đốc Keating và Bà Keating, thưa Mục sư Graham,

Thưa các gia đình của những người đã khuất và bị thương, và thưa nhân dân Thành phố Oklahoma, những người đã gánh chịu quá nhiều,

Thưa nhân dân của bang tuyệt vời này, thưa tất cả quý quan khách ở đây như là quốc dân Mỹ của chúng ta,

Tôi lấy làm vinh dự có mặt ở đây để thay mặt cho nhân dân Mỹ. Nhưng tôi cần nói với quý vị rằng Hillary và tôi cũng đến đây với tư cách như là bậc cha mẹ, như là người vợ và người chồng, như là hàng xóm của quý vị trong những năm đẹp đẽ nhất trong cuộc đời quý vị.

Oklahoma bombing
Em bé trong vòng tay một nhân viên cứu hỏa

 

Ngày hôm nay, đất nước chúng ta ở kề bên quý vị trong nỗi đau buồn. Chúng tôi cùng chịu tang với quý vị. Chúng tôi chia sẻ hy vọng của quý vị là một số người có thể còn sống sót. Chúng tôi cảm ơn tất cả những người đã làm việc một cách dũng cảm để cứu sống sinh mạng và để xử lý tội ác này – những người của Bang Oklahoma ở đây và những người ở khắp đất nước vĩ đại này, và nhiều người đã rời bỏ sinh hoạt trong cuộc sống của họ để đến đây mà làm việc sát cánh cùng quý vị. Chúng tôi cam kết sẽ làm hết sức mình nhằm giúp quý vị chữa lành người bị thương, nhằm xây dựng lại thành phố này, và nhằm đem những kẻ đã làm chuyện tàn ác này ra trước công lý.

Tội ác kinh khủng này lấy đi nhiều sinh mạng của gia đình Mỹ chúng ta, của trẻ em vô tội trong tòa nhà ấy chỉ bởi vì cha mẹ các em đang cố tỏ ra là bậc cha mẹ tốt đồng thời là những người làm công ăn lương tốt; của những công dân trong tòa nhà làm các công việc hằng ngày của họ; và của nhiều người ở đó đã phục vụ những người còn lại trong chúng ta – những người làm việc để trợ giúp người cao tuổi và người tàn tật, những người làm việc để hỗ trợ nông dân của chúng ta và cựu chiến binh của chúng ta, những người làm việc để thực thi pháp luật và để bảo vệ chúng ta. Chúng ta hãy nói rõ rằng họ đã phục vụ tốt chúng ta, và chúng ta lấy làm cảm kích. [vỗ tay]

Nhưng đối với nhiều người trong số quý vị, họ cũng là hàng xóm và bạn bè. Quý vị gặp gỡ họ ở nhà thờ hay các buổi họp phụ huynh học sinh, ở các câu lạc bộ dân sự, ở công viên thể thao. Quý vị quen biết họ theo những cách thức mà tất cả những người còn lại của Mỹ không thể biết. Đối với tất cả thành viên của các gia đình hiện diện ở đây gánh chịu mất mát, cho dù chúng tôi chia sẻ nỗi buồn, nỗi đau của quý vị thì không tưởng tượng được, và chúng tôi biết thế. Chúng tôi không thể xóa bỏ nỗi đau. Đấy là việc của Thượng Đế.

Ngôn từ của chúng tôi có vẻ như nhỏ bé so với sự mất mát mà quý vị gánh chịu. Nhưng tôi tìm được một ít ngôn từ mà hôm nay tôi muốn chia sẻ. Tôi nhận được nhiều bức thư trong những ngày kinh hoàng này. Một bức thư nổi bật vì nó đến từ một quả phụ trẻ và là mẹ của ba con có chồng bị sát hại cùng với trên 200 người Mỹ khác khi Pan Am 103[1] bị bắn hạ. Đây là ngôn từ của phụ nữ ấy mà hôm nay tôi muốn kể với quý vị:

Cơn giận dữ của các bạn là đúng lý, nhưng các bạn không nên để cho nó làm tiêu hao các bạn. Không nên để cho nỗi đau biến thành thù hận, mà thay vào đó biến thành việc kiếm tìm công lý. Sự mất mát mà các bạn cảm nhận không được làm tê liệt cuộc sống của các bạn. Thay vào đó, các bạn nên vinh danh những người thân thương của mình bằng cách tiếp tục làm những việc mà họ làm dang dở, vì thế đảm bảo họ đã không chết một cách vô ích.

Quả là ngôn từ thông tuệ đối với người cũng thấu hiểu.

Quý vị mất mát quá nhiều, nhưng quý vị không mất tất cả. Và chắc chắn là quý vị không mất nước Mỹ, bởi vì chúng tôi sát cánh bên quý vị cho đến khi nào mà quý vị còn cần đến chúng tôi. [vỗ tay]

Nếu chúng ta có khi nào cần chứng cứ cho việc đó, tôi chỉ có thể nhắc lại lời của Thống đốc và Bà Keating: “Nếu có ai nghĩ người Mỹ đa phần bần tiện và ích kỷ, họ phải đến Oklahoma. [vỗ tay và huýt sáo] Nếu có ai nghĩ người Mỹ đánh mất khả năng thương yêu, chăm sóc và tỏ ra dũng cảm, họ phải đến Oklahoma.” [vỗ tay và huýt sáo]

Đối với tất cả quốc dân Mỹ của tôi bên ngoài sảnh này, tôi muốn nói rằng có một việc chúng ta còn nợ những người đã hy sinh, đó là nghĩa vụ trục xuất ra khỏi con người chúng ta những thế lực đen tối đã gây nên tội ác này. [vỗ tay] Đó là những thế lực đe dọa sự an bình chung của chúng ta, tự do của chúng ta, lối sống của chúng ta. Chúng ta cần dạy cho con trẻ biết rằng Thượng Đế của an ủi cũng là Thượng Đế của chính trực: kẻ gieo gió sẽ gặt bão.[2] Công lý sẽ thắng. [vỗ tay]

Hãy để con cái của chúng ta hiểu rằng chúng ta sẽ đương đầu với những thế lực của sợ hãi. Khi có ai nói đến thù hận, hãy đứng lên mà hóa giải thù hận. Khi có ai nói đến bạo lực, hãy đứng lên mà hóa giải bạo lực. Đối mặt với cái chết, chúng ta hãy vinh danh cuộc sống. Như Thánh Phao Lô đã răn dạy chúng ta: “Đừng để cho cái ác khuất phục, mà khuất phục cái ác bằng cái thiện.” [vỗ tay]

Ngày hôm qua, Hillary và tôi được đặc ân nói chuyện với một số con trẻ của nhân viên liên bang – con trẻ giống như những trẻ đã mất ở đây. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên được lời của một bé gái. Bé nói: “Tất cả chúng ta nên trồng một cái cây để tưởng nhớ các trẻ em.” Thế là sáng nay trước khi chúng tôi bước lên máy bay để đến đây, ở Tòa Bạch ốc, chúng tôi trồng một cái cây nhằm vinh danh các trẻ em ở Oklahoma. [vỗ tay]. Đó là một cây sơn thù du[3] nở hoa tuyệt vời vào mùa xuân, có rễ ăn sâu bền chặt. Cây này thể hiện bài học trong Thánh thi: cuộc sống của một người tốt giống như một cây có tán lá xanh tươi.

Hỡi quốc dân Mỹ, cây cần thời gian để lớn, và vết thương cần thời gian để lành. Nhưng chúng ta phải bắt đầu. Những người đã ra đi hiện giờ đang về với Chúa. Một ngày nào đó chúng ta sẽ gặp lại họ. Nhưng trước khi đến ngày đó, di sản của họ phải là cuộc đời của chúng ta.

Cảm ơn tất cả quý vị, và xin Ơn Trên phù hộ quý vị. [vỗ tay]

Diệp Minh Tâm dịch từ bản ghi hình: http://www.youtube.com/watch?v=5DgXx_evi6Q

Chú thích

[1] Pan Am 103 là số hiệu chuyến bay của một máy bay Boeing 747–121 của hãng Pan Am trên đường bay từ London đến New York ngày 21 tháng 12 năm 1988. Máy bay bị bắn hạ, làm tất cả 243 hành khách và 16 người của phi hành đoàn tử vong. Mảnh vụn của máy bay rơi xuống Lockerbie, Scotland, khiến cho 11 người trên mặt đất tử vong.

[2] Nguyên nghĩa trong Kinh Thánh: “Kẻ gây xáo trộn trong ngôi nhà của họ sẽ thừa hưởng gió, và kẻ ngu dốt sẽ làm tôi tớ cho người khôn ngoan trong tâm hồn.”

[3] Sơn thù du, Anh ngữ: dogwood.

“Quyền của phụ nữ là nhân quyền” – Hillary Rodham Clinton

Bà Hillary Rodham Clinton (1947- ) là Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ (2001-2009), Đệ nhất Phu nhân của Tổng thống Bill Clinton (1993-2001), và Ngoại trưởng Mỹ (2019-1013).

Trong thời gian là Đệ Nhất Phu nhân, bà trở thành một biểu tượng mạnh mẽ cho vai trò và vị thế thay đổi của phụ nữ trong xã hội Mỹ. Bà là người đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ đắc cử vào Thượng viện trong khi đang là Đệ Nhất Phu nhân.

Tạp chí Foreign Policy chọn bà và chồng, cựu Tổng thống Bill Clinton, cùng đứng hạng 3 trong số 100 “Khối óc Toàn cầu” năm 2012.

Tạp chí Newsweek gọi bà là người phụ nữ mạnh mẽ nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Với tư cách là Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ, Bà Hillary Rodham Clinton được mời phát biểu tại buổi họp đại hội đồng ngày 05 tháng 9 năm 1995 của Hội nghị Thế giới về Phụ nữ của Liên Hiệp Quốc lần thứ Tư tại Bắc Kinh, Trung quốc.

Bài diễn văn được đánh giá Hạng 35 trong số 100 diễn văn chính trị ở Mỹ quan trọng nhất trong Thế kỷ 20 (trang mạng AmericanRhetoric).

Tôi xin cảm ơn vị Tổng Thư ký đã mời tôi tham dự sự kiện quan trọng này, Hội nghị Thế giới về Phụ nữ của Liên Hiệp Quốc lần thứ Tư. Đây quả là một sự kiện đáng ca ngợi, ca ngợi sự đóng góp của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống: ở nhà, trong công việc, trong cộng đồng, như là những người mẹ, người vợ, con gái, người đi học, công nhân, công dân, và những nhà lãnh đạo.

Hillary Clinton3
Hillary Rodham Clinton tại diễn đàn LHQ về phụ nữ

 

Đây cũng là cuộc gặp gỡ, giống như cách phụ nữ gặp gỡ hằng ngày ở mỗi nước. Chúng ta đến với nhau trên cánh đồng và trong nhà máy, ở chợ làng và ở siêu thị, trong phòng khách và phòng họp. Dù cho khi chơi đùa với con cái chúng ta trong công viên, hoặc giặt rũ quần áo bên bờ sông, hoặc giải lao ở máy nước lạnh trong văn phòng, chúng ta đến với nhau và chuyện trò về những ước vọng và ưu tư của chúng ta. Lúc này qua lúc khác, những cuộc chuyện trò của chúng ta hướng về con cái và gia đình của chúng ta. Cho dù chúng ta khác biệt với nhau như thế nào đi nữa, có nhiều điều đoàn kết chúng ta hơn là chia rẽ chúng ta. Chúng ta chia sẻ một tương lai chung, và chúng ta ở đây để tìm kiếm lập trường chung hầu chúng ta có thể giúp mang phẩm giá cùng sự tôn trọng mới đến cho đàn bà và con gái trên khắp thế giới, và qua cách này cũng mang sức mạnh cùng sự ổn định mới đến cho các gia đình.

Qua việc gặp gỡ ở Bắc Kinh, chúng ta đang tập trung mối quan tâm của thế giới vào những vấn đề quan trọng nhất trong cuộc sống của chúng ta – cuộc sống của phụ nữ và gia đình của họ: sự tiếp cận với nền giáo dục, chăm sóc y tế, công ăn việc làm và tín dụng, cơ hội để hưởng những quyền pháp lý cơ bản và quyền con người cũng như để tham gia đầy đủ trong cuộc sống chính trị của đất nước chúng ta.

Có một số người chất vấn lý do cho hội nghị này. Hãy để cho họ nghe những tiếng nói của phụ nữ trong nhà, hàng xóm và sở làm của họ. Có những người tự hỏi liệu cuộc sống của đàn bà con gái có liên quan gì đến tiến bộ kinh tế và chính trị toàn cầu hay không. Hãy để cho họ nhìn những phụ nữ đang tụ hội ở đây và ở Huairou[1] – những người nội trợ và y tá, giáo viên và luật sư, người hoạch định chính sách và những phụ nữ tự điều hành việc kinh doanh của họ. Chính những hội nghị như thế này thúc đẩy các chính phủ và các dân tộc khắp nơi nghe, nhìn và đối mặt với những vấn đề bức thiết nhất của thế giới. Xét cho cùng thì có phải chăng – sau hội nghị phụ nữ ở Nairobi mười năm về trước, lần đầu tiên thế giới để ý đến sự khủng hoảng của nạn bạo hành gia đình?

Trước đó hôm nay, tôi .tham dự vào diễn đàn của Tổ chức Y tế Thế giới. Trong diễn đàn này, chúng tôi bàn về những cách thức mà các quan chức chính phủ, tổ chức phi chính phủ và công dân với tư cách cá nhân làm việc với nhau để khắc phục những vấn đề về y tế cho đàn bà và con gái. Ngày mai, tôi sẽ tham dự cuộc tụ họp của Quỹ Phát triển Liên Hiệp Quốc cho Phụ nữ. Ở đấy, các cuộc thảo luận sẽ tập trung vào những chương trình địa phương – và rất thành công – nhằm mang tín dụng đến cho phụ nữ lao động chăm chỉ hầu họ có thể cải thiện cuộc sống của họ và cuộc sống của gia đình họ.

Điều chúng ta đang tiếp thu khắp thế giới là nếu phụ nữ được khỏe mạnh và có nền học vấn, gia đình họ sẽ hưng thịnh. Nếu phụ nữ có cơ hội làm việc và ăn lương như là những đối tác toàn diện và bình đẳng trong xã hội, gia đình họ sẽ hưng thịnh. Khi gia đình hưng thịnh, cộng đồng và quốc gia cũng hưng thịnh. Đấy là lý do tại sao mỗi phụ nữ, mỗi đàn ông, mỗi trẻ nhỏ, mỗi gia đình và mỗi quốc gia trên hành tinh này đều có phần hưởng lợi trong cuộc thảo luận diễn ra tại đây.

Trong hơn 25 năm qua, tôi kiên trì làm việc về những vấn đề liên quan đến phụ nữ, trẻ em, và gia đình. Trong hơn hai năm rưỡi qua, tôi có cơ hội để tìm hiểu thêm về những thách thức mà phụ nữ ở chính nước tôi và khắp thế giới đang đối mặt.

Tôi gặp những người mẹ trẻ ở Indonedia, những người thường gặp gỡ nhau trong xóm làng họ để thảo luận về dinh dưỡng, kế hoạch hóa gia đình, và chăm sóc em bé. Tôi gặp những cha mẹ làm công ăn lương ở Đan Mạch, những người nói về mối an tâm khi biết rằng con cái họ được chăm sóc trong những nhà giữ trẻ ngoài giờ được an toàn. Tôi gặp những phụ nữ ở Nam Phi, những người đã lãnh đạo cuộc tranh đấu để chấm dứt nạn phân biệt chủng tộc và bây giờ đang xây dựng một nền dân chủ mới. Tôi gặp những phụ nữ hàng đầu ở Tây Bán cầu, những người đang làm việc hằng ngày nhằm xóa mù chữ và cải thiện chăm sóc y tế cho trẻ em trên đất nước họ. Tôi gặp những phụ nữ ở Ấn Độ và Bangladesh, những người đang nói về việc vay những khoản tiền nhỏ để mua bò sữa, hoặc xe kéo hoặc chỉ, nhằm tạo phương tiện sinh nhai cho chính họ và cho gia đình họ. Tôi gặp những bác sĩ và y tá ở Belarus và Ukraine, những người đang cố cứu sống trẻ em trong hậu quả của Chernobyl.

Thử thách to tát của hội nghị này là tạo tiếng nói cho phụ nữ khắp nơi có kinh nghiệm nhưng không được chú ý đến, có ý kiến nhưng không được nghe. Phụ nữ chiếm hơn phân nửa dân số thế giới, 70% của số người nghèo trên thế giới, và hai phần ba của số người mù chữ. Chúng ta là những người chăm sóc chủ yếu cho phần lớn trẻ em và người già trên thế giới. Tuy vậy, nhiều công việc của chúng ta không được đánh giá cao – cả các nhà kinh tế, nhà sử học, nhà văn hóa quần chúng, các nhà lãnh đạo chính phủ đều không đánh giá cao.

Khi chúng ta ngồi đây vào lúc này, phụ nữ khắp thế giới đang sinh nở, nuôi con, nấu các bữa ăn, giặt rũ quần áo, quét dọn nhà cửa, trồng hoa màu, làm việc ở dây chuyền lắp ráp, điều hành công ty, và điều hành đất nước. Phụ nữ cũng đang chết vì những bệnh đáng lẽ có thể phòng ngừa hoặc chữa trị được. Họ đang nhìn con cái họ ngắc ngoải vì suy dinh dưỡng do đói nghèo và bị tước đoạt về kinh tế. Họ đang bị cha anh từ chối quyền được đi đến trường. Họ đang bị cưỡng bức vào cảnh mại dâm, họ đang bị văn phòng tín dụng ngân hàng ngăn chặn, và bị cấm cản khỏi phòng bỏ phiếu.

Những người trong chúng ta có cơ hội đến đây có trách nhiệm cất tiếng thay cho những người không thể nói ra. Là người Mỹ, tôi muốn cất tiếng thay cho những phụ nữ ở nước tôi, những phụ nữ đang nuôi con cái bằng đồng lương tối thiểu, những phụ nữ không có đủ tiền cho chăm sóc y tế hoặc chăm sóc trẻ em, những phụ nữ có cuộc sống bị đe dọa bởi bạo hành, kể cả bạo hành trong chính ngôi nhà của họ.

Tôi muốn cất tiếng thay cho những bà mẹ đang tranh đấu để có trường học tốt, hàng xóm an toàn, không khí trong lành, và làn sóng phát thanh lành mạnh; cho những cụ già, một số là quả phụ, những người thấy rằng sau khi .gầy dựng gia đình, kỹ năng và kinh nghiệm cuộc sống của họ không được đánh giá cao trên thị trường; cho những phụ nữ đang làm việc suốt đêm với nghề y tá, nhân viên khách sạn hoặc đầu bếp thức ăn nhanh hầu họ có thể ở nhà ban ngày với con trẻ; và cho những phụ nữ khắp nơi, đơn giản là những người không có thời giờ để làm mọi việc mà hằng ngày họ bị bắt buộc phải làm.

Khi phát biểu với các bạn hôm nay, tôi cất tiếng thay cho họ, cũng giống như mỗi người trong chúng ta cất tiếng thay cho phụ nữ khắp thế giới, những người bị từ khước cơ hội đến trường, hoặc đi gặp bác sĩ, hoặc làm chủ bất động sản, hoặc có tiếng nói về đường hướng của cuộc đời họ, đơn giản chỉ vì họ là phụ nữ. Sự thật là phần đông phụ nữ khắp thế giới làm việc cả bên trong và bên ngoài ngôi nhà của họ, thường là do nhu cầu cần thiết.

Chúng ta cần phải hiểu không có một công thức duy nhất về việc làm thế nào phụ nữ định đoạt cuộc sống của mình. Chính vì thế mà chúng ta phải tôn trọng những chọn lựa của mỗi phụ nữ cho chính người ấy và gia đình của người ấy. Mỗi phụ nữ xứng đáng có cơ hội để phát huy tiềm năng mà Thượng Đế dành cho người ấy. Nhưng chúng ta phải nhận thức rằng phụ nữ sẽ chỉ có đầy đủ phẩm giá khi nhân quyền của họ được tôn trọng và bảo vệ.

Không thể đạt đến những mục tiêu của chúng ta trong hội nghị này, nhằm củng cố gia đình và xã hội bằng cách trao quyền cho phụ nữ để kiểm soát nhiều hơn số mệnh của họ, trừ phi tất cả các chính phủ – ở đây và trên toàn thế giới – nhận trách nhiệm bảo vệ và khuyến khích những quyền con người mà quốc tế nhìn nhận. [vỗ tay] Cộng đồng quốc tế từ lâu nhìn nhận và gần đây tái khẳng định ở Vienna rằng cả phụ nữ và đàn ông có quyền được hưởng những biện pháp bảo vệ và tự do cá nhân, từ quyền an ninh cá nhân cho đến quyền được tự do quyết định số con và cách quãng giữa các lần sinh nở [vỗ tay] Không ai phải bị ép buộc giữ im lặng vì sợ ngược đãi, bắt bớ, lạm dụng, hoặc tra tấn vì lý do tôn giáo hoặc chính trị.

Điều đáng buồn là phụ nữ rất thường là những người bị vi phạm về nhân quyền. Ngay cả bây giờ, trong Thế kỷ 20, việc hãm hiếp phụ nữ tiếp tục được dùng là một công cụ của xung đột vũ trang. Phụ nữ và trẻ em chiếm đa số lớn của người tị nạn trên thế giới. Khi phụ nữ bị gạt ra khỏi tiến trình chính trị, họ lại bị lạm dụng thêm. Tôi tin rằng bây giờ, trước thềm thiên niên kỷ mới, đã đến lúc phá bỏ sự im lặng. Đã đến lúc chúng ta nói ra ở đây Bắc Kinh, và cho cả thế giới cùng nghe, rằng thảo luận về quyền phụ nữ tách biệt khỏi quyền con người là việc không còn được chấp nhận. [vỗ tay]

Những sự lạm dụng ấy còn tiếp tục bởi vì, .từ quá lâu, lịch sử của phụ nữ là lịch sử của sự im lặng. Ngay cả ngày hôm nay, có những người đang cố bắt chúng ta phải im lặng. Nhưng những tiếng nói của hội nghị này và của phụ nữ ở Huairou phải được nghe cho rõ:

Khi những em bé bị bỏ đói, hoặc bị trấn nước, hoặc bị bóp cho ngạt thở, hoặc xương sống bị đánh vỡ đơn giản chỉ vì chúng là con gái, thì đó là vi phạm nhân quyền. [vỗ tay]

Khi đàn bà và con gái bị bán vào cảnh nô dịch mãi dâm do lòng tham của con người, thì đó là vi phạm nhân quyền – và mọi lý do nhằm biện minh cho việc này không còn được chấp nhận. [vỗ tay]

Khi phụ nữ bị tưới xăng, bị châm lửa, và bị thiêu cho đến chết bởi vì số tiền hồi môn quá ít, thì đó là vi phạm nhân quyền. [vỗ tay]

Khi các cá nhân phụ nữ bị cưỡng hiếp trong cộng đồng của họ và khi hàng nghìn phụ nữ bị cưỡng hiếp như là chiến thuật hoặc giải thưởng của chiến tranh, thì đó là vi phạm nhân quyền. [vỗ tay]

Khi nguyên nhân hàng đầu toàn thế giới cho cái chết của phụ nữ trong độ tuổi 14 đến 44 là bạo hành trong gia đình bởi thân nhân của họ, thì đó là vi phạm nhân quyền. [vỗ tay]

Khi các bé gái lâm vào cảnh tàn nhẫn qua thói quen gây đau đớn và làm giảm phẩm giá của việc cắt bỏ âm vật, thì đó là vi phạm nhân quyền. [vỗ tay]

Khi phụ nữ bị khước từ quyền kế hoạch hóa gia đình, kể cả việc bị ép buộc phải phá thai hoặc làm cho vô sinh ngoài ý muốn của họ, thì đó là vi phạm nhân quyền. [vỗ tay]

Nếu có một thông điệp cần phải vang vọng từ hội nghị này, thì đó là: nhân quyền là quyền của phụ nữ và quyền của phụ nữ là nhân quyền, dứt khoát phải như thế. [vỗ tay] Và trong số những quyền ấy là quyền tự do phát biểu – và quyền được nghe.

Nếu chúng ta muốn tự do và dân chủ phát triển và trường tồn, thì phụ nữ phải được hưởng những quyền nhằm hòa nhập hoàn toàn vào cuộc sống xã hội và chính trị trên nước họ. Không thể nào biện minh được sự kiện là nhiều phụ nữ trong các tổ chức phi chính phủ mong muốn tham gia vào hội nghị này nhưng không thể tham dự – hoặc bị ngăn cấm nên không thể tham dự đầy đủ. [vỗ tay]

Tôi muốn nhấn mạnh: Tự do có nghĩa là quyền của con người được tụ tập, tổ chức và tranh luận công khai. Nó có nghĩa là tôn trọng quan điểm của những người có thể không đồng ý với những quan điểm của chính phủ họ. Nó có nghĩa là không được bắt bớ công dân cho xa rời người thân và giam cầm họ, ngược đãi họ, hoặc tước mất tự do và phẩm giá của họ vì lý do họ phát biểu một cách ôn hòa những suy nghĩ và ý kiến của họ. [vỗ tay]

Ở nước tôi, gần đây chúng tôi làm lễ kỷ niệm tròn 75 năm Quyền Bầu cử của Phụ nữ. Phải mất 150 năm sau khi ký bản Tuyên ngôn Độc lập, phụ nữ mới có quyền bầu cử. Phải mất 72 năm tranh đấu có tổ chức do nhiều phụ nữ và đàn ông can đảm, trước khi chuyện ấy xảy ra. Đấy là một trong những cuộc chiến triết lý gây chia rẽ nhất của nước Mỹ. Quyền bầu cử cuối cùng được công nhận mà không phải bắn một phát súng nào.

Nhưng chúng ta cũng được nhắc nhở, khi kỷ niệm Ngày Chiến thắng Nhật Bản tuần rồi, về thành quả đạt được khi đàn ông và phụ nữ sát cánh bên nhau nhằm chiến đấu chống lại lực lượng của kẻ chuyên chế và nhằm xây dựng một thế giới tốt hơn. Chúng ta thấy hòa bình hiện diện trên phần lớn các nơi chốn trong nửa thế kỷ. Chúng ta tránh được một thế chiến nữa. Nhưng chúng ta vẫn chưa giải quyết được những vấn nạn xưa cũ hơn, có gốc rễ ăn sâu, tiếp tục hạ thấp tiềm năng của phân nửa dân số thế giới.

Bây giờ đã đến lúc hành động thay mặt cho phụ nữ khắp nơi. Nếu chúng ta có những bước đi dũng cảm để cải thiện cuộc sống của phụ nữ, thì chúng ta cũng sẽ có những bước đi dũng cảm để cải thiện cuộc sống của trẻ em và gia đình. Gia đình tùy thuộc vào bà mẹ và người vợ cho sự hỗ trợ và chăm sóc tình cảm. Gia đình tùy thuộc vào phụ nữ cho công việc trong nhà. Khắp nơi, càng ngày càng có thêm những gia đình tùy thuộc vào phụ nữ cho thu nhập cần thiết để nuôi nấng con cái khỏe mạnh và chăm sóc những thân nhân khác.

Chừng nào mà nạn kỳ thị và bất bình đẳng còn hiện diện khắp nơi trên thế giới, chừng nào mà con gái và đàn bà bị hạ thấp giá trị, ăn uống kém hơn, ăn uống sau cùng, làm việc quá sức, đồng lương hạ thấp, không được đi học, bị bạo hành bên trong và bên ngoài ngôi nhà của họ – thì chừng đó tiềm năng của gia đình con người không thể phát huy được để tạo ra một thế giới hòa bình, thịnh vượng. [vỗ tay]

Hội nghị này phải là lời kêu gọi của chúng ta – và là lời kêu gọi của thế giới – cho hành động. Chúng ta hãy nghe theo lời kêu gọi ấy hầu chúng ta có thể tạo dựng một thế giới trong đó mỗi phụ nữ được đối xử với lòng tôn trọng và phẩm giá, mỗi bé trai và bé gái được yêu thương và chăm sóc ngang bằng, mỗi gia đình có hy vọng cho một tương lai sáng sủa và ổn định. Đấy là thế giới trước mặt các bạn. Đấy là thế giới trước mặt tất cả chúng ta – những người có tầm nhìn về thế giới mà chúng ta muốn thấy – cho con và cháu của chúng ta.

Bây giờ đã đến lúc. Chúng ta phải có hành động tiếp theo sau ngôn từ hùng biện. Chúng ta phải có hành động sau khi nhận ra những vấn nạn, để cùng nhau làm việc, để có những nỗ lực chung nhằm xây dựng nền tảng chung ấy mà chúng ta hy vọng được thấy.

Xin Ơn Trên phù hộ các bạn, công việc của bạn, và những người sẽ hưởng lợi từ công việc ấy.

Chúc may mắn và cảm ơn quý vị rất nhiều. [vỗ tay]

Diệp Minh Tâm dịch từ bản ghi hình: YouTube – http://www.youtube.com/watch?v=xXM4E23Efvk

Chú thích

[1] Huairou là tên quận nằm ở phía bắc Thành phố Bắc Kinh, là nơi diễn ra hội nghị của các tổ chức phi chính phủ năm 1995, cùng lúc với Hội nghị Thế giới về Phụ nữ của Liên Hiệp Quốc lần thứ Tư. Từ đó, Ủy hội Huairou (Huairou Commission) ra đời nhằm liên kết những tổ chức phụ nữ ở cấp cơ sở.

Good movies based on good books

reamble

A good movie based on a good book will ensure of better success while enhancing greatly the book value, through image and sound and setting. In contrast, it is regrettable to see a movie cannot show the sentiments, the spirits of a good book.

In this compilation, good movies based on good books are introduced. Reference sources cannot be given on this non-profit site, for a number of reasons. The purpose is to encourage the habit of reading and to help you find even more values in the movies derived from the books you like.

For books, the Goodreads Rating is referred. Of course, this is for reference only, since I sometimes give a different rating, put in the square brackets [ ].

Books are rated up to 5, and can be evaluated as follows:

4.5 and above   : master piece
4.0 to below 4.5: excellent
3,5 to below 4.0: very good
3.0 to below 3.5: good (there are no books in this category)

For books, the IMDb (Internet Movie Database) Rating is preferred. Of course, this is for reference only, since sometimes I cannot enjoy a movie of high IMDb rating!

Books are rated up to 10, and can be evaluated as follows:

9.0 and above: master piece
8.0 – 8.9: excellent
7.6 – 7.9: very good
7.0 – 7.5: good
6.0 – 6.9: pretty good.

Aftershocks – by Ling Zhang

IMDb Rating: 3.6

Aftershocks paints the many faces of the survivors of the Great Tangshan Earthquake in 1976. After an earthquake people die, structures crushed and crumbled, and land and seas altered. Then the dead are buried, structures are rebuilt, and we move on. But the process of the survivors’ physical and emotional recovery takes on many arduous paths.

Aftershock (2010) IMDb Rating: 7.6

Director: Feng Xiaogang

Stars: Zhang Zifeng, Xu Fan, Zhang Jingchu, Chen Daoming, Lu Yi, Zhang Guoqiang and Li Chen

The film depicts the aftermath of the 1976 Tangshan earthquake. It was released in China on 22 July 2010, and is the first “big commercial film” IMAX film created outside the United States. The film was a major box office success, and has grossed more than US$100 million at the Chinese box office.

The film receives the prize of Best Film in Asia-Pacific Film Festival.

Alf layla wa-layla (One thousand and one nights) – [Anonymous]

Goodreads rating: 3.8

This is a collection of Middle Eastern folk tales compiled in Arabic during the Islamic Golden Age. It is often known in English as the Arabian Nights, from the first English-language edition (1706), which rendered the title as The Arabian Nights’ Entertainment.

The work was collected over many centuries by various authors, translators, and scholars across West, Central, and South Asia and North Africa. The tales themselves trace their roots back to ancient and medieval Arabic, Greek, Indian, Jewish, Persian and Turkish folklore and literature. In particular, many tales were originally folk stories from the Abbasid era, while others, especially the frame story, are most probably drawn from the Pahlavi Persian work Hezār Afsān (Persian: هزار افسان‎, lit. A thousand tales), which in turn relied partly on Indian elements.

Aladdin (1992) IMDb Rating: 8.0

Directors: John Musker, Ron Clements

Voice cast: Scott Weinger, Robin Williams, Linda Larkin, Jonathan Freeman, Frank Welker, Gilbert Gottfried, Douglas Seale

Aladdin is an American animated comedy musical romantic fantasy adventure film produced by Walt Disney Feature Animation for Walt Disney Pictures. The film follows Aladdin, a street urchin, who finds a magic lamp containing a genie. In order to hide the lamp from the Grand vizier, he disguises himself as a wealthy prince, and tries to impress the Sultan and his daughter.

All of the film’s best moments come from the genie and the other supporting characters, which include a plump little sultan, his scheming vizier, an angry parrot named Iago, a chattering monkey, a friendly flying carpet, and even a magic cave that turns into a fearsome face so that Aladdin has to venture down its throat.

Ever since Jiminy Cricket first danced onto the screen, Disney animators have created entertaining supporting casts, and the magic carpet is one of the most ingenious: with only tassels and body language to work with, it somehow possesses a complete personality, whisking Aladdin and Abu, his monkey, on terrifying swoops around the kingdom.

Lyricist Howard Ashman first pitched the idea, and the screenplay went through three drafts before then-Disney Studios president Jeffrey Katzenberg agreed to its production. The animators based their designs on the work of caricaturist Al Hirschfeld, and computers were used for both finishing the artwork and creating some animated elements. The musical score was written by Alan Menken and features six songs with lyrics written by both Ashman and Tim Rice, who took over after Ashman’s death.

The film became the most successful film of 1992, earning over $217 million in revenue in the United States, and over $504 million worldwide. The film won many awards, mostly for its soundtrack.

Composer Alan Menken and songwriters Howard Ashman and Tim Rice were praised for creating a soundtrack that is “consistently good, rivaling the best of Disney’s other animated musicals from the ’90s.” Although fourteen songs were written for Aladdin, only six are featured in the movie, three by each lyricist.

Anna and the King of Siam – Margaret Landon

Goodreads Rating: 3.8

In 1862, recently widowed and with two small children to support, British schoolteacher Anna Leonowens agrees to serve as governess to the children of King Mongkut of Siam (present-day Thailand), unaware that her years in the royal palace will change not only her own life, but also the future of a nation. Her relationship with King Mongkut, famously portrayed by Yul Brynner in the classic film The King and I, is complicated from the start, pitting two headstrong personalities against each other: While the king favors tradition, Anna embraces change.

As governess, Anna often finds herself at cross-purposes, marveling at the foreign customs, fascinating people, and striking landscape of the kingdom and its harems, while simultaneously trying to influence her pupils – especially young Prince Chulalongkorn – with her Western ideals and values. Years later, as king, this very influence leads Chulalongkorn to abolish slavery in Siam and introduce democratic reform based on the ideas of freedom and human dignity he first learned from his beloved tutor.

This captivating novel brilliantly combines in-depth research – author Margaret Landon drew from Siamese court records and Anna’s own writings – with richly imagined details to create a lush portrait of 1860s Siam. As a Rodgers & Hammerstein Broadway musical and an Academy Award–winning film, the story of Anna and the King of Siam has enchanted millions over the years. It is a gripping tale of cultural differences and shared humanity that invites readers into a vivid and sensory world populated by unforgettable characters.

Later, a dozen more of musical and films were produced based on the book.

The King and I (1956) IMDb Rating: 7.5

Director: Walter Lang

Writers: Ernest Lehman (screenplay), Oscar Hammerstein II (book), Margaret Landon (from their musical play based on Anna and the King of Siam)

Stars: Yul Brynner King Mongkut of Siam), Deborah Kerr (Anna Leonowens), Rita Moreno

This is the popular and elaborate musical and story of the tutoring of the stubborn, King of Siam’s wives and children by widowed English school teacher Anna Leonowens in 1862.

Richard Rodgers and Oscar Hammerstein II’s opulent Best Picture-nominated film (with choreography by Jerome Robbins) was an adaptation of their own 1951 Broadway musical version.

The film is memorable for the timeless Rodgers and Hammerstein music and songs (Kerr’s voice was dubbed by Marni Nixon), including the famed scene in which Anna and the King danced energetically and joyously in the memorable number Shall We Dance? Other famous tunes included Getting to Know You (sung with the King’s children), Hello, Young Lovers, and I Whistle a Happy Tune.

The King’s two most familiar refrains and phrases are: “Hah,” and: “Et cetera, et cetera, et cetera.”

They eventually come to love, admire and respect each other, however.

She agrees to stay on to offer help and advice to the new ruler and Crown Prince of Siam (Chulalongkorn) following his death.

The film was nominated for nine Academy Awards including Picture, Director, Actress and Color Cinematography, with five Oscars including Actor, Music Score, Color Art Director/Set Decoration, Color Costume Design, and Sound.

Anne of green gables – L.M. Montgomery

Goodreads rating: 4.2

This is a 1908 novel by Canadian author Lucy Maud Montgomery (published as L. M. Montgomery). Written for all ages, it has been considered a children’s novel since the mid-twentieth century. It recounts the adventures of Anne Shirley, an 11-year-old orphan girl who is mistakenly sent to Matthew and Marilla Cuthbert, a middle-aged brother and sister who had intended to adopt a boy to help them on their farm in the fictional town of Avonlea on Prince Edward Island. The novel recounts how Anne makes her way with the Cuthberts, in school, and within the town.

Anne of Green Gables (TV series 1985) IMDb Rating: 8.4

Director: Kevin Sullivan

Writers: L.M. Montgomery, Kevin Sullivan, Joe Wiesenfeld Stars: Megan Follows (Anne Shirley), Colleen Dewhurst (Marilla Cuthbert), Richard Farnsworth (Matthew Cuthbert), Patricia Hamilton (Rachel Lynde), Marilyn Lightstone (Miss Muriel Stacy)

2 episodes, totally 3h 19min.

More than 40 years after Lucy Maud Montgomery’s death, an aspiring Ontario-based producer has an idea: Anne of Green Gables — the miniseries. It took Kevin Sullivan four years to sort out the rights surrounding Montgomery’s most famous book, and another year to audition more than 4,000 actresses for his ideal Anne.

anneofgreengables_01

Anne Shirley proved to be the most difficult role to cast. Thousands of actresses from Canada and the United States were auditioned for the title role in open auditions across the country. After a year of looking, they finally gave Megan Follows a chance.

Filmed amidst the spectacular scenery of Prince Edward Island, these Emmy Award-winning productions span two decades, from Anne’s struggles as an orphan in a small maritime community, to her triumphs as a young teacher and as a volunteer searching for her husband on the battlefields of Europe.

The success of 1985’s series pushed Montgomery’s work into the cultural spotlight in a way it hadn’t been in decades. P.E.I.’s tourism board claims that tourist traffic to the island increased by 30 per cent in 1986.

Atonement – Ian McEwan

Goodreads Rating: 3.9

This is a 2001 British metafiction novel concerning the understanding of and responding to the need for personal atonement. Set in three time periods, 1935 England, Second World War England and France, and present-day England, it covers an upper-class girl’s half-innocent mistake that ruins lives, her adulthood in the shadow of that mistake, and a reflection on the nature of writing.

Atonement was shortlisted for the 2001 Booker Prize for fiction. It was also shortlisted for the 2001 James Tait Black Memorial Prize and the 2001 Whitbread Novel Award. It won the 2002 Los Angeles Times Book Prize for Fiction, the 2002 National Book Critics Circle Award for Fiction, the 2002 WH Smith Literary Award, the 2002 Boeke Prize and the 2004 Santiago Prize for the European Novel. In its 1000th issue, Entertainment Weekly named the novel #82 on its list of the 100 best books from 1983-2008. Additionally, Time named it the best fiction novel of the year and included it in its All-TIME 100 Greatest Novels. The Observer cites it as one of the 100 greatest novels ever written, calling it “a contemporary classic of mesmerizing narrative conviction.”

Atonement (2007) IMDb Rating: 7.8

Director: Joe Wright

Writers: Ian McEwan (novel), Christopher Hampton (screenplay)

Stars: Keira Knightley (Cecilia Tallis), James McAvoy (Cecilia Tallis), Brenda Blethyn, Saoirse Ronan (Briony),

The film chronicles a crime and its consequences over the course of six decades, beginning in the 1930s.

Atonement opened both the 2007 Vancouver International Film Festival and the 64th Venice International Film Festival, making Wright, at the age of 35, the youngest director ever to open the latter event. A commercial success, the film earned a worldwide gross of approximately $129 million against a budget of $30 million. Critics gave the drama positive reviews, praising its acting performances, its cinematography and Dario Marianelli’s score.

Wright, who also directed Knightley in his first film, Pride and prejudice (2005) shows a mastery of nuance and epic, sometimes in adjacent scenes. In the McEwan novel, he has a story that can hardly fail him and an ending that blindsides us with its implications. This is one of the year’s best films, a certain best picture nominee.

Atonement won an Oscar for Original Score, and was nominated for six others, including Picture, Adapted Screenplay and Supporting Actress for Ronan. It also garnered fourteen nominations at the British Academy Film Awards, winning both Film and Production Design, and won the Golden Globe Award for Motion Picture – Drama.

Band of brothers – Stephen E. Ambrose

Goodreads Rating: 4.4

Stephen E. Ambrose’s iconic New York Times bestseller about the ordinary men who became the World War II’s most extraordinary soldiers: Easy Company, 506th Parachute Infantry Regiment, 101st Airborne Division, US Army.

They came together, citizen soldiers, in the summer of 1942, drawn to Airborne by the $50 monthly bonus and a desire to be better than the other guy. And at its peak – in Holland and the Ardennes – Easy Company was as good a rifle company as any in the world.

From the rigorous training in Georgia in 1942 to the disbanding in 1945, Stephen E. Ambrose tells the story of this remarkable company. In combat, the reward for a job well done is the next tough assignment, and as they advanced through Europe, the men of Easy kept getting the tough assignments.

They parachuted into France early D-Day morning and knocked out a battery of four 105 mm cannon looking down Utah Beach; they parachuted into Holland during the Arnhem campaign; they were the Battered Bastards of the Bastion of Bastogne, brought in to hold the line, although surrounded, in the Battle of the Bulge; and then they spearheaded the counteroffensive. Finally, they captured Hitler’s Bavarian outpost, his Eagle’s Nest at Berchtesgaden.

They were rough-and-ready guys, battered by the Depression, mistrustful and suspicious. They drank too much French wine, looted too many German cameras and watches, and fought too often with other GIs. But in training and combat they learned selflessness and found the closest brotherhood they ever knew. They discovered that in war, men who loved life would give their lives for them.

This is the story of the men who fought, of the martinet they hated who trained them well, and of the captain they loved who led them. E Company was a company of men who went hungry, froze, and died for each other, a company that took 150 percent casualties, a company where the Purple Heart was not a medal – it was a badge of office.

Band of brothers (TV series 2001) IMDb Rating: 9.5 (Highest at present for TV series]

Director: Phil Alden Robinson, Richard Loncraine, Mikael Salomon, David Nutter, Tom Hanks, David Leland, David Frankel, Tony To

Writers: Stephen Ambrose, Erik Bork, Tom Hanks, Erik Jendresen, Bruce C. McKenna…

Scott Grimes (Donald G. Malarkey), Damian Lewis (Richard D. Winters), Ron Livingston (Lewis Nixon), Shane Taylor (Eugene G. Roe), Donnie Wahlberg (C. Carwood Lipton), Peter Youngblood Hills (Darrell C. “Shifty” Powers), Matthew Leitch (Floyd M. “Tab” Talbert), Rod Strohl (himself)

10 episodes, produced by HBO.

This is a 2001 American war drama miniseries that won Emmy and Golden Globe awards in 2001 for best miniseries.

The series dramatizes the history of “Easy” Company, 2nd Battalion, 506th Parachute Infantry Regiment, of the 101st Airborne Division, from jump training in the United States through its participation in major actions in Europe, up until Japan’s capitulation and the war’s end. The events are based on Ambrose’s research and recorded interviews with Easy Company veterans. The series took literary license, adapting history for dramatic effect and series structure. The characters portrayed are based on members of Easy Company. Some of the men were recorded in contemporary interviews, which viewers see as preludes to each episode, with the men’s real identities revealed in the finale.

To preserve historical accuracy, the writers conducted additional research. One source was the memoir of Easy Company soldier David Kenyon Webster, Parachute Infantry: An American Paratrooper’s Memoir of D-Day and the Fall of the Third Reich (1994). This was published by LSU Press, following renewed interest in World War II and almost 40 years after his death in a boating accident. (Ambrose had in his 1992 book quoted liberally from Webster’s unpublished diary entries, with permission from his estate).

The series was nominated for twenty Primetime Emmy Awards, and won seven, including Outstanding Miniseries and Outstanding Directing for a Miniseries, Movie, or Dramatic Special. It also won the Golden Globe Award for Best Miniseries or Motion Picture Made for Television, American Film Institute Award for TV Movie or Miniseries of the Year, Producers Guild of America Award for Outstanding Producer of Long-Form Television, and the TCA Award for Outstanding Achievement in Movies, Miniseries, and Specials. The show was also selected for a Peabody Award for ‘…relying on both history and memory to create a new tribute to those who fought to preserve liberty.’

Ben-Hur: A tale of the Christ – Lew Wallace

Goodreads Rating: 4.0

This is a novel published in 1880, and is considered “the most influential Christian book of the nineteenth century”. It became a best-selling American novel, surpassing Harriet Beecher Stowe’s Uncle Tom’s Cabin (1852) in sales. The book also inspired other novels with biblical settings and was adapted for the stage and motion picture productions. Ben-Hur remained at the top of the US all-time bestseller list until the publication of Margaret Mitchell’s Gone with the wind (1936). The 1959 MGM film adaptation of Ben-Hur was seen by tens of millions and won 11 Academy Awards in 1960, after which the book’s sales increased and it surpassed Gone with the wind. It was blessed by Pope Leo XIII, the first novel ever to receive such praise.

The story recounts in descriptive detail the adventures of Judah Ben-Hur, a Jewish prince from Jerusalem, who is enslaved by the Romans at the beginning of the first century and becomes a charioteer and a Christian. Running in parallel with Judah’s narrative is the unfolding story of Jesus, from the same region and around the same age. The novel reflects themes of betrayal, conviction, and redemption, with a revenge plot that leads to a story of love and compassion.

The development of the cinema following the novel’s publication brought film adaptations in 1907, 1925, 1959, 2003, and 2016, as well as a North American TV miniseries in 2010.

Ben-Hur (1959) IMDb Rating: 8.1

Director: William Wyler

Writers: Lew Wallace (novel) (as General Lew Wallace), Karl Tunberg (screenplay)

Stars: Charlton Heston (Judah Ben-Hur), Stephen Boyd (Messala), Martha Scott (Miriam), Cathy O’donnell (Tirzah), Sam Jaffe (Simonides), Finlay Currie (Balthasar /), Frank Thring (Pontius Pilate), André Morell (Sextus), Terence Longdon (Drusus), George Relph (Tiberius Caesar), Jack Hawkins (Quintus Arrius), Haya Harareet (Esther), Hugh Griffith (Sheik Ilderim)

Director William Wyler’s film was a retelling of the spectacular silent film of the same name (director Fred Niblo’s and MGM’s Ben-Hur: A tale of the Christ (1925)). Both films were adapted from the novel (first published in 1880) by former Civil War General Lew Wallace. Wyler had been an ‘extras’ director on the set of DeMille’s original film in the silent era. MGM’s Ben-Hur: A tale of the Christ (1925), featuring a cast of 125,000, cost about $4 million to make after shooting began on location in Italy, in 1923, and starred silent screen idols Ramon Novarro and Francis X. Bushman. This figure is equivalent to $33 million today – it was the most expensive silent film ever made.

This remake of the novel was inspired by the fact that three years earlier, Cecil B. DeMille and Paramount had remade the 1925 version of his film as a successful 50’s epoch Biblical tale titled The Ten Commandments (1956). The heroic figure of Charlton Heston (an iconic and righteous Moses figure) would again be commissioned to play the lead role in this film of a Jewish nobleman (the Prince of Judea) –  after the role was turned down by Burt Lancaster, Rock Hudson and Paul Newman. In the plot, prince Judah Ben-Hur was enslaved by a Roman tribunal friend (with a homosexual subtext provided by co-writer Gore Vidal), but then returned years later to seek revenge in the film’s centerpiece, a chariot race. Ultimately, he would find redemption and forgiveness in the inspiring and enlightening finale.

The colorful 1959 version was the most expensive film ever made up to its time, and the most expensive film of the 50s decade. At $15 million and shot on a grand scale, it was a tremendous make-or-break risk for MGM Studios – and ultimately saved the studio from bankruptcy. [It was a big dual win for MGM, since they had won the Best Picture race the previous year for Gigi (1958).] It took six years to prepare for the film shoot, and over a half year of on-location work in Italy, with thousands of extras. It featured more crew and extras than any other film before it – 15,000 extras alone for the chariot race sequence.

Ben-Hur proved to be an intelligent, exciting, and dramatic piece of film-making unlike so many other vulgar Biblical pageants with Hollywood actors and actresses. Its depiction of the Jesus Christ figure was also extremely subtle and solely as a cameo – it never showed Christ’s face but only the reactions of other characters to him.

It was one of the most honored, award-winning films of all time. It was nominated for twelve Oscars: Picture, Actor (Charlton Heston – his sole career Oscar), Supporting Actor (Hugh Griffith), Director (William Wyler), Color Cinematography, Color Art Direction/Set Decoration, Sound, Score, Film Editing, Color Costume Design, Special Effects, and Screenplay (sole-credited Karl Tunberg). It was the first film to win eleven Oscars – it lost only in the Screenplay category due to a dispute over screenwriting credits (Maxwell Anderson, Christopher Fry, and Gore Vidal were all uncredited). Titanic (1997) and The lord of the rings: The return of the king (2003) are the only films to tie this phenomenal record, although unlike this film, they came away without any acting Oscars.

BenHur_race

The chariot race sequence in the Circus Maximus (an amazing replica of the one in Rome) is one of the most thrilling and famous in film history. [Homage was paid to it with George Lucas’ pod-race in Star wars: Episode I – The phantom menace (1999).] The site of the race, the Circus Maximus in Jerusalem (Judea), was constructed on over 18 acres of backlot space at Cinecitta Studios outside Rome, and the filming of the sequence took about five weeks. Except for two of the most spectacular stunts, both Charlton Heston and Stephen Boyd did all their own chariot driving in the carefully-choreographed sequence. There are contradictory reports about the fatality of a stuntman during the dangerous scene in the film, yet no published discussions of the film mention the accident, and Charlton Heston’s 1995 autobiography In the Arena specifically stated that no one was seriously injured (beyond a cut on the chin) during the filming of the scene.

The film won a record 11 Oscars and became the top-grossing film of 1960. Heston won the Oscar for Actor, and called it his “best film work”; Wyler won the Oscar for Director. In 1998, the American Film Institute named Wyler’s film one of the 100 best American films of all time.

Biruma no tategoto (Harp of Burma) – Takeyama Michio

Goodreads rating: 3.6 [4.0]

Harp of Burma is Japan’s haunting answer to Germany’s famous requiem for the First World War, All quiet on the Western front.

Winner of the prestigious Mainichi Shuppan Bunkasho prize and the subject of an acclaimed film by Ichikawa Kon, Harp of Burma portrays a company of Japanese troops who are losing a desperate campaign against British forces in the tropical jungles of Burma. The young soldiers discover that the trials of war involve more than just opposing the enemy. The alien climate and terrain, the strange behavior of foreigners, the constant struggle to overcome homesickness and nostalgia, and the emotions stirred by the senselessness of war – all of these forces, new and baffling to the soldiers, contribute to their distress and disorientation.

In the midst of these overwhelming challenges, they discover the power of music to make even the most severe situations tolerable – through their commander’s ability to lead them in song. Even though they face the inevitability of defeat, singing the songs of their homeland revives their will to live.

Through the story of these men and of the music that saw them through the war, Takeyama presents thought-provoking questions about political hostilities and the men who unleash them. Harp of Burma is Japan’s classic novel of pathos and compassion in the midst of senseless warfare.

Biruma no tategoto – The Burmese harp (1956) IMDb Rating: 8.1

Director: Kon Ichikawa

Writers: Michio Takeyama (novel), Natto Wada

Stars: Rentarô Mikuni (Captain Inouye), Shôji Yasui (Mizushima), Jun Hamamura (Ito)

An Imperial Japanese Army regiment surrenders to British forces in Burma at the close of World War II and finds harmony through song. A private, thought to be dead, disguises himself as a Buddhist monk and stumbles upon spiritual enlightenment. Magnificently shot in hushed black and white, Kon Ichikawa’s The Burmese harp is an eloquent meditation on beauty coexisting with death and remains one of Japanese cinema’s most overwhelming antiwar statements, both tender and brutal in its grappling with Japan’s wartime legacy.

burmese-harp1

There are moving scenes, like when buried the bones of Japanese soldiers, or when the Japanese inmates singing Home, sweet home behigh barbed wires while outside a boy then a monk accompanies them with a harp.

The film received the San Giorgio Prize at the Venice Film Festival, and was nominated for the Oscar for Foreign-Language Film.

Bu bu jing xin – Hua Tong

Goodreads Rating: 4.4

This was Tong Hua’s debut novel. Originally published online in 2005 on Jinjiang Original Network, it was later published by Ocean Press, National Press, Huashan Arts Press, Hunan Literature and Art Publishing House, and Yeren Culture Publishing. Tong Hua revised the novel in 2009 and 2011. The latest edition contained an additional 30,000 word epilogue.

Twenty-first century woman, Zhang Xiao, encountered traffic collision after work that sent her back in time to the Qing Dynasty during the Kangxi Emperor’s reign (in the year 1704). She found herself trapped in the body of a young daughter of a Manchu aristocrat, Ma’ertai Ruoxi, younger sister of Ma’ertai Ruolan, who was a concubine of the emperor’s eighth son, Yinsi. Stranded in the past, Ruoxi became acquainted with Kangxi’s other sons, including the fourth prince Yinzhen and his full brother, the fourteenth prince Yinti. She forged a close friendship with the thirteenth prince, Yinxiang. Using charm and wit, Ruoxi won the emperor’s favor and became his lady-in-waiting, attending to the monarch and his family.

Bu bu jing xin – Scarlet Heart (TV series 2011) IMDb Rating: 8.1

Director: Lee Kwok-Lap

Writer: Hua Tong

Stars: Cecilia Liu (Zhang Xiao), Nicky Wu (Yinzhen, fourth prince), Kevin Cheng (Yinsi, eight prince), Ye Zuxin (Yin’e, tenth prince) Yuan Hong (thirteenth prince, Yinxiang), Lin Gengxin (Yinti, fourteenth prince) Lin Gengxin, Damian Lau (Kangxi Emperor), Shi Xiaoqun (Gogoro Minghui)

40 episodes

A pioneer of the time slip genre in Asian television, Scarlet Heart is a commercial and critical hit, both in China and across Asia.

The series remains mostly faithful to Bu bu jing xin, the novel on which it is based, except for some difference.

Zhang Xiao, a young woman from the 21st century, suffers a near-fatal accident that sends her back in time to the Qing Dynasty during the Kangxi Emperor’s reign. She finds herself trapped in the body of one of her previous incarnations: Ma’ertai Ruoxi, the teenage daughter of a Manchu general. In this new timeline, she has an elder sister, Ruolan, who is a concubine of the Kangxi Emperor’s eighth son, Yinsi. Ruoxi initially tries to return to the future, but she soon adjusts to life in this era. She meets some of Kangxi’s other sons, including the fourth prince Yinzhen, tenth prince Yin’e who falls in love with her, and fourteenth prince Yinti. She also forges a close friendship with the thirteenth prince, Yinxiang.

Ruoxi attracts the attention of the emperor with rumors of her brashness and bravery, and manages to charm him with her intelligence and wit. Later, at the imperial palace’s “beauty draft” (during which concubines and wives are chosen for the princes or the emperor himself), conflicting arrangements are made by Yinsi and his first wife, Gogoro Minghui, leading to Ruoxi being drafted into the service of the dowager empress to keep the peace. Ruoxi is given an appointment as a servant to the emperor himself, specifically to prepare and serve tea to him and those he hosts.

Dances with wolves – Michael Blake

Goodreads Rating: 4.2

Ordered to hold an abandoned army post, John Dunbar found himself alone, beyond the edge of civilization. Thievery and survival soon forced him into the Indian camp, where he began a dangerous adventure that changed his life forever.

Michael Blake, whose novel became a hit film that earned him an Academy Award for the screenplay, wrote the book at the urging of his longtime friend Kevin Costner at a time when he was short of money.

Dances with wolves (1990) IMDb Rating: 8.0

Director: Kevin Costner

Writers: Michael Blake (screenplay), Michael Blake (novel)

Stars: Kevin Costner, Mary McDonnell, Graham Greene, Rodney Grant

A Civil War soldier develops a relationship with a band of Lakota Indians. Attracted by the simplicity of their lifestyle, he chooses to leave his former life behind to be with them. Having observed him, they give the name Dances With Wolves. Soon he is a welcomed member of the tribe and falls in love with a white woman who has been raised in the tribe.

Dances with wolves thrilled audiences way back in 1990 because people had forgotten the pleasures of the long narrative, the Western genre, and movies that weren’t special effects schlock-fests. It remains an inspiring and moving experience.

Costner’s direction is first-rate. He’s able to blend intimate drama with big, sprawling action that covers a huge canvas. It’amazing to watch how smoothly the film segues from movement to movement — action, alienation, suspense, social commentary, romance. He also gets great performances out of his cast.

Dances with wolves

The movie is beautifully shot, has an unforgettable score, and is very well-written. It is not only a Western, but also a modern action picture/character study that avoids all the boring cliches of the Western genre. Here is a movie that stands for something, means something, and deserves at least as much respect as some of the overrated dreck we’ve gotten saddled with lately.

With a total of 12 nominations, Dances with wolves became the first Western film to win an Academy Award for Picture since 1931. The movie was also awarded Director, Adapted Screenplay, Cinematography, Film Editing, Sound, and Original Score.

In addition, the movie received the Golden Globe for Motion Picture, Director and Screenplay. A Silver Bear for an outstanding single achievement and various recognition from the American Film Institute. In 2007, the Library of Congress selected the movie for preservation in the United States National Film Registry as being “culturally, historically, or aesthetically significant”.

Emergence: Labeled autistic – Temple Grandin & Margaret M. Scariano

Goodreads Rating: 4.1

A true story that is both uniquely moving and exceptionally inspiring, Emergence is the first-hand account of a courageous autistic woman who beat the odds and cured herself. An intelligent child with a thirst for knowledge, but unable to properly express herself or control her behaviour, Temple struggled through grade school. Eventually moved from a normal school to an educational program for autistic children, she began to suffer nerve attacks. Now Temple tells the story of how she went from a fear-gripped, autistic child to a successful professional and a world leader in her field. A chronicle of perseverance and courage, Emergence gives new hope and insight into the tragedy of autism and the vast potential of the human spirit.

This searingly honest account captures the isolation and fears suffered by autistics and their families and the quiet strength of one woman who insisted on a miracle.

Temple Grandin (TV Movie 2010) IMDb Rating: 8.3

Director: Mick Jackson

Temple Grandin (based on the book Emergence), Margaret Scariano (based on the book Emergence)…

Stars: Claire Danes (Temple Grandin), Julia Ormond (Eustacia), David Strathairn (Dr. Carlock), Catherine O’Hara (Aunt Ann), Stephanie Faracy (Betty Goscowitz), Barry Tubb (Randy)

The film follows Temple Grandin’s life, providing background through a series of flashbacks. As a child, Grandin is uncommunicative and prone to tantrums and is diagnosed with autism. The medical consensus at that time was that autism was a form of schizophrenia resulting from insufficient maternal affection. Despite recommendations to place her in an institution, Grandin’s mother hires therapists and works to help her daughter adapt to social interaction.

The movie is captivating not only for the exceptional acting but providing us with a glimpse into the world of autism. Everything about this movie points to excellence: the writing, the direction, the cinematography and the acting of a superb cast featuring Claire Danes in what must be the role of a lifetime.

The movie is moving in its emotional impact without becoming maudlin. The pace of the movie is quick and takes us through a number of years in the fascinating life of Temple Grandin without losing us or boring us.

The film won 1 Golden Globe, another 33 wins & 34 nominations. It won seven Emmy awards and ranking second behind the World War II miniseries, The Pacific, in number of Emmy’s earned.

Don’t miss this movie. You will be glad you saw it. It does a great job of letting you see the world through the eyes of Temple Grandin.

Empire of the Sun – J. G. Ballard

Goodreads Rating: 4.0

This is a 1984 novel by English writer J. G. Ballard; it was awarded the James Tait Black Memorial Prize and was shortlisted for the Man Booker Prize. It is essentially fiction but draws extensively on Ballard’s experiences in World War II. The name of the novel is derived from the etymology of the name for Japan.

The novel recounts the story of a young British boy, Jamie Graham (named after Ballard’s two first names, “James Graham”), who lives with his parents in Shanghai. After the Pearl Harbor attack, Japan occupies the Shanghai International Settlement, and in the following chaos Jim becomes separated from his parents.

He spends some time in abandoned mansions, living on remnants of packaged food. Having exhausted the food supplies, he decides to try to surrender to the Imperial Japanese Army. After many attempts, he finally succeeds and is interned in the Lunghua Civilian Assembly Center.

Although the Japanese are “officially” the enemies, Jim identifies partly with them, both because he adores the pilots with their splendid machines and because he feels that Lunghua is still a comparatively safer place for him.

J.G. Ballard waited 40 years before writing about his experiences in a Japanese internment camp.

Empire of the Sun (1987) IMDb Rating: 7.8

Stars: Christian Bale, John Malkovich, Miranda Richardson, Nigel Havers, Joe Pantoliano, Leslie Phillips

Director: Steven Spielberg

Empire of the SunThe protagonist is only a boy but the film is wonderful for all ages.

The movie is wonderfully staged and shot, and the prison camp looks and feels like a real place. But Spielberg allows the airplanes, the sun and the magical yearning to get in his way. Jim has a relationship, at a distance, with a young Asian boy who lives outside the prison fence, and this friendship ends in a scene that is painfully calculated and manipulative. There is another moment, at about the same time in the film, where Jim creeps outside the camp by hiding in a drainage canal and escapes capture and instant death not because of his wits but because Spielberg forces a camera angle – placing his camera so that a person cannot be seen who would be visible in real life.

The screenplay was filmed by Steven Spielberg, to critical acclaim, being nominated for six Oscars and winning three British Academy Awards (for cinematography, music and sound). It starred a then 13-year-old Christian Bale, as well as John Malkovich and Miranda Richardson; it also featured an appearance by a 21-year-old Ben Stiller, in a dramatic role.

The film was nominated for 6 Oscars, and got another 12 wins & 10 nominations.

Forrest Gump – Winston Groom

Goodreads Rating: 4.1

In this 1986 novel, the title character retells adventures ranging from shrimp boating and ping pong championships, to thinking about his childhood love, as he bumbles his way through American history, with everything from the Vietnam War to college football becoming part of the story. Forrest’s simplicity is almost zen-like.

Throughout his life, Gump views the world simply and truthfully. He really does not know what he wants to do in life. Despite his low IQ, Gump is full of wisdom. According to him, he “can think things pretty good”, but when he tries “sayin or writin them, it kinda come out like Jello”. His mathematical abilities, as an idiot savant, and feats of strength lead him into all kinds of amazing adventures.

After accidentally becoming the star of University of Alabama’s football team, Forrest goes on to become a Vietnam War hero, a world-class Ping-Pong player, a villainous wrestler, and a business tycoon – as he wonders with childlike wisdom at the insanity all around him. In between misadventures, he manages to compare battle scars with Lyndon Johnson, discover the truth about Richard Nixon, and survive the ups and downs of remaining true to his only love, Jenny, on an extraordinary journey through three decades of the American cultural landscape.

Before the film Forrest Gump was made, 30,000 copies of the book had been sold. After the film won an Oscar for Best film, the sale all over the world rose to 1.7 million copies.

Forrest Gump (1994) IMDb Rating: 8.7 (Top rated movies #12)

Director: Robert Zemeckis

Writers: Winston Groom (novel), Eric Roth (screenplay)

Stars: Tom Hanks, Robin Wright Penn, Gary Sinise, Mykelti Williamson

Quite simply, one of the greatest films ever made.

Humor, sadness, action, drama and a Vietnam film all rolled into one. This is a powerful yet charming movie; fun for its special effects and profound in how it keeps you thinking long after it’s over.

Năm 2011, Thư viện Quốc hội Mỹ chọn phim Forrest Gump vào khu bảo tồn của Cơ quan Lưu trữ Phim ảnh Quốc gia vì “có ý nghĩa về mặt văn hóa, lịch sử và mỹ học.”

From emperor to citizen: The autobiography of Aisin-Gioro Pu Yi – Pu Yi

Goodreads Rating: 3.7

“Important and fascinating.”  – The New York Times

From emperor to citizen is the autobiography of Pu Yi, the man who was the last emperor of China. A unique memoir of the first half of the 20th century as seen through the eyes of one born to be an absolute monarch, the book begins with the author’s vivid account of the last, decadent days of the Ching Dynasty, and closes with an introspective self-portrait of the last Ching emperor transformed into a retiring scholar and citizen of the People’s Republic of China.

In detailing the events of the fifty years between his ascension to the throne and the final period of his life as a quiet-living resident of Beijing, Pu Yi reveals himself to be first and foremost a survivor, caught up in the torrent of global power struggles and world conflict that played itself out on the Asian continent through many decades of violence and upheaval.

Becoming emperor and then forced to abdicate with the establishment of the Republic of China in 1911, all before he is seven continues to live in Forbidden City for another decade still treated as the Son of Heaven by the moribund Ching court, but in reality a virtual prisoner, with little genuine human contact apart from his beloved nurse Mrs. Wang, his teacher Chen Pao-shen and his English tutor Reginald Johnston.

When at the age of nineteen Pu Yi is finally forced to vacate his isolated existence within the Forbidden City, he begins his long odyssey as the dependent of the occupying imperial Japanese regime, first in Tientsin, and eventually installed as “emperor” of the Japanese puppet state styled Manchukuo in China’s northeast provinces. With the defeat of Japan and the end of the Second World War, Pu Yi faces a very uncertain future as he is shunted off to Russia for five years before returning to a new China transformed by revolution, where he is confined in the Fushun War Criminal Prison. Here he undergoes several years of rehabilitation, “learning how to become a human being,” as he calls it, before receiving an official pardon and being allowed to finally live as an ordinary citizen of Beijing.

This autobiography is the culmination of a unique and remarkable life, told simply, directly and frankly by a man whose circumstances and experiences were like no other.

The last emperor (1984) IMDb Rating: 7.8

Director: Bernardo Bertolucci

Writers: Mark Peploe (screenplay), Bernardo Bertolucci (screenplay), Puyi (autobiography) (uncredited)

Stars: John Lone (Pu Yi – adult), Joan Chen (Wan Jung), Peter O’toole (Reginald ‘R. J.’ Johnston), Victor Wong (Chen Pao Shen), Ryuichi Sakamoto (Amakasu), Ric Young (Interrogator), Vivian Wu (Wen Hsiu), Cary-Hiroyuki Tagawa (Chang), Richard Vuu (Pu Yi – 3 years), Ruocheng Ying (the governor), Dennis Dun (Big Li), Maggie Han (Eastern Jewel), Jade Go (Ar Mo), Fumihiko Ikeda (Yoshioka), Tsou Tijger (Pu Yi – 8 years)

This firsthand description of the dramatic events of Pu Yi’s life was the basis for the internationally acclaimed film The Last Emperor which was named Best Picture of the Year by the American Academy of Motion Picture Arts and Sciences. From emperor to citizen readily lends itself to cinematic adaptation as a personal narrative of continuously significant and revealing episodes.

The film won 9 Oscars: Picture, Director, Screenplay Based on Material from Another Medium, Cinematography, Art Direction-Set Decoration, Costume Design, Sound, Film Editing, Music, Original Score; and 4 Goden Globes Director, Screenplay, Original Score – Motion Picture, Motion Picture – Drama.

Gone with the wind – Margaret Mitchell

Goodreads rating: 4.3

This novel was first published in 1936. The story is set in Clayton County and Atlanta, both in Georgia, during the American Civil War and Reconstruction Era. It depicts the struggles of young Scarlett O’Hara, the spoiled daughter of a well-to-do plantation owner, who must use every means at her disposal to claw her way out of poverty following Sherman’s destructive “March to the Sea”. This historical novel features a Bildungsroman or coming-of-age story, with the title taken from a poem written by Ernest Dowson.

Gone with the wind was popular with American readers from the outset and was the top American fiction bestseller in 1936 and 1937. As of 2014, a Harris poll found it to be the second favorite book of American readers, just behind the Bible. More than 30 million copies have been printed worldwide.

Written from the perspective of the slaveholder, Gone with the wind is Southern plantation fiction. Its portrayal of slavery and African Americans has been considered controversial, especially by succeeding generations, as well as its use of a racial epithet and ethnic slurs common to the period. However, the novel has become a reference point for subsequent writers about the South, both black and white. Scholars at American universities refer to, interpret, and study it in their writings. The novel has been absorbed into American popular culture.

Mitchell received the Pulitzer Prize for Fiction for the book in 1937.

Gone with the wind (1939) IMDb Rating: 8.2

Director: Victor Fleming

Writers: Margaret Mitchell (story of Gone with the wind), Sidney Howard (screenplay)

Stars: Clark Gable (Butler), Fred Crane (Brent Tarleton), Olivia de Havilland (Melanie Hamilton), Leslie Howard (Ashley Wilkes), Evelyn Keynes (Suelle), O’Hara (Vivien Leigh), Hattie McDaniel Butterfly McQueen (Prissy), Thomas Mitchell (Gerald O’Hara), Carroll Nye (Frank Kennedy), Barbara O’Neil (Ellen O’Hara), Oscar Polk (Pork), George Reeves (Stuart Tarleton)

Surely this film is a masterpiece that nobody dares to remake! This film shows the best of the American cinema. Whether we like the film, or not, one has to recognize the greatest achievement, perhaps, of the creative talent of the people working in the movie industry. Gone with the wind represents a monumental leap, as well as a departure, for the movies, as they were done prior to this film.

This movie will live forever because it reminds us of how this great nation came into being, despite the different opinions from the two stubborn factions in the war.

Gone with the wind brought together the best people in Hollywood. The end result is the stunning film that for about four hours keep us interested in the story unfolding in the screen. Of course, credit must be due to the director, Victor Fleming, and his vision, as well as the adaptation by Sydney Howard, who gave the right tone to the film. The gorgeous cinematography created by Ernest Haller gives us a vision of the gentle South before the war, and the Phoenix raising from the ashes of a burned Atlanta. The music of Max Steiner puts the right touch behind all that is seen in the movie.

One can’t conceive another Scarlett O’Hara played by no one, but Vivien Leigh. Her beauty, her sense of timing, her intelligent approach to this role, makes this a hallmark performance. Ms. Leigh was at the best moment of her distinguished career and it shows. The same thing applies to the Rhett Butler of Clark Gable. No one else comes to mind for playing him with the passion he projects throughout the movie. This is a man’s man. The other two principals, Olivia de Havilland and Leslie Howard, give performances that are amazing to watch.

Harry Potter and the sorcerer’s stone – J.K. Rowling

Goodreads rating: 4.4

This is a fantasy novel, the first in the Harry Potter series and Rowling’s debut nove. The plot follows Harry Potter, a young wizard who discovers his magical heritage as he makes close friends and a few enemies in his first year at the Hogwarts School of Witchcraft and Wizardry. With the help of his friends, Harry faces an attempted comeback by the dark wizard Lord Voldemort, who killed Harry’s parents, but failed to kill Harry when he was just 15 months old.

The novel won most of the British book awards that were judged by children and other awards in the U.S. The book reached the top of the New York Times list of best-selling fiction in August 1999 and stayed near the top of that list for much of 1999 and 2000. It has been translated into at least seventy three other languages, and has six sequels.

Harry Potter and the sorcerer’s stone (2001) IMDb Rating: 7.6

Director: Chris Columbus

Writers: J.K. Rowling (novel), Steve Kloves (screenplay)

Stars: Daniel Radcliffe (Harry), Rupert Grint (Ron Weasley), Emma Watson (Hermione), Robbie Coltrane (Rubeus Hagrid), Fiona Shaw (Petunia), Richard Griffiths (Vernon Dursley)

Thanks to the magic of the cinema, Harry and his companions fairly leap from the pages of the novel to the silver screen in the phenomenal motion picture. What a monumental undertaking to even think of attempting – translating and transferring this passionately beloved work from novel to the screen. Because to millions of people, Harry and his companions are so much more than merely characters in a book; these are characters for whom people have made a special place in their hearts, which puts a great burden of trust upon the man who would attempt to bring them to life. And Chris Columbus, it turns out, was the right man for the job. More than rising to the occasion and with some magic of his own – and a lot of help from an extraordinarily talented cast and crew – Columbus has delivered a film that is not only true to the story, but true to the very spirit that makes Harry Potter so special. The special effects are absolutely beyond astounding.

Even having the best special effects do not a great movie make, what catapults this one to the top are the performances, beginning with Radcliffe, whom you quickly forget is an actor playing a part. And that about sums up what kind of a job this young man does here. Without question, he IS Harry Potter, physically and emotionally. Also turning in excellent performances are Rupert Grint as Ron Weasley, and Emma Watson as Hermione. As with Radcliffe, the casting here could not have been more perfect.

To be faced with the challenge of adapting Harry Potter for the silver screen must have been any director’s nightmare – the chance of directing possibly the biggest film of this decade, but also the hardest audience – the millions of fans of the book who know every line and will pick up on every mistake. Christopher Columbus and all of the team working on Harry Potter did marvelously.

If you do not like fantasy movies, nevertheless you should watch this one. Then you can decide if you should watch the rest in the series.

Hou Gong: Zhen Huan Zhuan – Liu Lianzi

Goodreads rating: 4.6 for Volume I, 4.3 for Volume 2.

A historical fiction of enormous popularity which won the first prize of http://www.qq.com sponsored, reader voted, writing contest. The novel is set in the 18th century Qung dynasty. A beautiful girl of 15 was chosen as one of a few dozens of the emperor’s concubines. Thrown in with these women in the huge Forbidden City, she learned the tragedies of the lives of concubines.

Zhen Huan Zhuan – Empresses in the Palace (TV series 2011)
IMDb rating: 8.4

Directed: Zheng Xiaolong

Writers: Liu Lianzi and Wang Xiaoping

Cast: Sun Li (Zhen Huan, Niohuru Zhenhuan), Chen Jianbin (Emperor Yongzheng), Ada Choi (Empress Ulanara Yixiu), Jiang Xin (Nian Shilan), Leanne Liu (Uya Chengbi), Li Dongxue (Aisin Gioro Yunli), Lan Xi (Shen Meizhuang), Tao Xinran (An Lingrong)

This is probably the best TV series of Chinese historical fiction, based on a popular contemporary novel.

Chan Hoan_movie

What a gorgeous work this is! It just never stops filling the eyes with beauty, whether in the costumes and jewelry or the sets or in the actresses themselves. It’s just a constant delight to watch. And the story never becomes dull.

The series centres on the schemes between Emperor Yongzheng’s concubines in the Imperial Palace during the Qing Dynasty. The innocent 17-year-old Zhen Huan (Huan Huan) is chosen for the Emperor’s harem, and after entering the palace finds herself caught in the fierce infighting between the Empress and the concubines. Realizing that the palace is a cruel and harsh place, she has to learn to survive on her own, sometimes by unorthodox methods. The plots and intrigues, conspiracies and poisonings never end. She has her setbacks but learns to survive and outlasts even the emperor.

With her wits and talents, Huan Huan fights her way through and wins the Emperor’s affection, ultimately becoming the most influential concubine in the imperial palace, and she ascends to unparalleled glory and wealth. However, she also becomes a woman with few real friends at her side, even after she is rid of all her enemies.

The attention to detail in costumes and sets is astonishing, and hopefully the storyline is also accurate. We certainly get a detailed, wonderfully colourful look into what life must have been like in the Chinese court during the Qing period.

Westerners will occasionally become confused over names and titles, but usually things become clear, given a little time and patience. Certainly the story and the eye candy make it worthwhile.

The drama was split into three parts for its Japanese broadcast and was aired under the title Women Vying for Power in the Palace <宮廷の諍い女>.

For the U.S. market, the series was edited down to 12 episodes each with a 45-minute duration. In order to enjoy all details of the plots and sentiments and if you have patience, it is advisable to watch the original series of 76 episodes.

Hónglóu mèng (Dream of the red chamber) – Cao Xueqin

Goodreads rating: 4.1

One of China’s Four Great Classical Novels, it was written sometime in the middle of the 18th century during the Qing Dynasty. Long considered a masterpiece of Chinese literature, the novel is generally acknowledged to be the pinnacle of Chinese fiction. “Redology” is the field of study devoted exclusively to this work.

Red Chamber is believed to be semi-autobiographical, mirroring the rise and decline of author Cao Xueqin’s own family and, by extension, of the Qing Dynasty. As the author details in the first chapter, it is intended to be a memorial to the damsels he knew in his youth: friends, relatives and servants. The novel is remarkable not only for its huge cast of characters and psychological scope, but also for its precise and detailed observation of the life and social structures typical of 18th-century Chinese society.

Dream of the red chamber is a masterpiece that has been called the ‘book of the millennium’ and it is high time it receives the attention it deserves.

The critic Anthony West called it “one of the great novels of world literature … to the Chinese as Proust is to the French or Karamazov to the Russians”.

A dream in red mansions (TV series 1987) IMDb Rating: 8.8

Director: Jia-qi Ma, Gui-zhen Sun, Fulin Wang

Writers: Xueqin Cao, Geng-lu Liu, Lei Zhou, Ling Zhou

Stars: Ouyang Fenqiang as Jia Baoyu

Chen Xiaoxu (Lin Daiyu), Zhang Li (Xue Baochai), Cheng Mei (Jia Yuanchun), Dongfang Wenying (Jia Tanchun), Guo Xiaozhen (Shi Xiangyun), Ji Yu (former name Ji Peijie) (Miaoyu), Deng Jie (Wang Xifeng), Jin Lili (Jia Yingchun), Zhang Lei (Qin Keqing), Shen Ling (Ping’er), An Wen (former name Zhang Jinglin) (Qingwen), Yuan Mei (Xiren), Gao Liang (Jia Lian), Zhou Xianzhen (Lady Wang)

36 episodes, with English subtitles.

The TV series is regarded by many within China as being a near-definitive adaptation of the novel as it gained enormous popularity for its music, cast, and plot adaptation.

dorm3

This 1987 TV version can lay claim, after more than two decades, as perhaps still the finest TV series ever produced by Mainland China. It really lifts TV series (usually the domain of soap operas and clichéd dramas) to the realm of art. The authenticity and the precision the producers, set decorators, art designers and the director have in realizing the classic novel is astonishing for that age. The entire Prospect Garden was built from scratch and actresses handpicked from thousands of applicants to choose the ones deemed most suitable for the roles. The actresses lived together for a year in a cloistered environment, underwent extensive training to learn how to walk and conduct themselves, to laugh, drink tea and to read the novel. The hairstyles, the make-up, the clothing and the sets were all meticulously researched. The result is a Dream of the Red Chamber series that will unlikely ever to be matched, let alone surpassed.

Regrettably, the best broadcast recordings were still a far cry from what HD can do nowadays. Another more likely criticism (the only probable shortcoming of the series) is that it really is still too short – it adapts almost all the major incidents in the earlier 80 chapters of Cao Xueqin’s novel, but for the later (probably 28 chapters), it does not use the Gao E and Cheng Weiyuan version. The screenwriters extrapolate the story’s ending, but do so in only 6 episodes or so. Considering it takes about 30 episodes to cover 80 chapters, it should take about 11 or 12 episodes instead of the 6 to cover the remaining 30 chapters. Some of the more supernatural episodes are also passed over because of the political climate of that time.

A TV remake of the novel started airing in 2010; however, much objection was raised over the unorthodox costume design and other contested interpretations.

Hương rừng Cà Mau – Sơn Nam

Goodreads Rating: 4.3 (for entire collation of short stories, 2013)

This is a collation of 66 short stories by the writer that has special knowledge of the rural southernmost area of Viet Nam. If you cannot find an English translation of the book to read, you should watch the following film.

Mùa len trâu – Buffalo boy (2004) IMDb Rating: 7.1

Director: Nguyễn Võ Nghiêm Minh

Writers: Nguyễn Võ Nghiêm Minh, Sơn Nam (short story)

Stars: Kra Zan Sram, Lê Thế Lữ, Nguyễn Hữu Thành, Nguyễn Thị Kiều Trinh

This film was the official entry from Vietnam for Oscar of Best Foreign Language Film. It was filmed in Cà Mau Province, Vietnam’s southernmost province.

Set along the southern coast of Vietnam during the French occupation in the 1940s, water is everywhere, giving life and bringing decay and rot. Kim is 15; his father and step-mother have two buffalo, their lifeline as subsistence rice farmers. During the rainy season, there’s no grass and the buffalo are starving. Kim volunteers to take the beasts inland to find food. On this coming-of-age journey, Kim sees men mistreat women, men fight with men, and French taxes rob the poor. He works for Lap, a buffalo herder whose past is entangled with Kim’s parents, and he makes friends who will lead him to his place in the world.

We are shown a land and a culture of savagery. We travel with rogues, rapists and murderers. Even the lead character is vulnerable to lapses in moral character. But through it all, he maintains the utmost dedication to his buffaloes and to those kind humans whom he encounters along the way. It’s one of the most honest portrayals of moral conflict in human beings.

With this debut of a stunningly beautiful film, the director combines riveting action/adventure, poignant relationships, powerful performances and excellent photography. He immerses us in a way of life that requires more courage in order to survive one day than most of us will have to summon in a life-time.

The symbolism, the poetry, and the commentary on the conflict of the human condition is absolutely enthralling. You have to be looking for it, though, because it’s quite subtle.

The movie got 7 wins and 1 nomination.

Inside Hitler’s bunker: The last days of the Third Reich – Joachim Fest, Margot Dembo (Translator)

Goodreads Rating: 3.9

Fest describes in riveting detail the final weeks of the war, from the desperate battles that raged night and day in the ruins of Berlin, fought by boys and old men, to the growing paranoia that marked Hitler’s mental state, to his suicide and the efforts of his loyal aides to destroy his body before the advancing Russian armies reached Berlin. Inside Hitler’s Bunker combines meticulous research with spellbinding storytelling and sheds light on events that, for those who survived them, were nothing less than the end of the world..

Der untergang – Downfall (2004) IMDb Rating: 8.2

Director: Oliver Hirschbiegel

Writers: Bernd Eichinger (screenplay), Joachim Fest (book)…

Stars: Bruno Ganz (Adolf Hitler), Alexandra Maria Lara (Traudl Junge), Corinna Harfouch (Magda Goebbels), Ulrich Matthes (Joseph Goebbels), Juliane Köhler (Eva Braun), Heino Ferch (Albert Speer), Ulrich Noethen (Heinrich Himmler), Rolf Kanies (General Hans Krebs)

Traudl Junge, the final secretary for Adolf Hitler, tells of the Nazi dictator’s final days in his Berlin bunker at the end of WWII.

The movie balances well between large-scale effects of bombs exploding in ruined streets and depictions of different persons going through the experience from Hitler and his staff in the well-protected bunkers to the principal military commanders torn between reason and loyalty and German civilians trapped in an inferno. The movie is neither pro-Nazi nor does it depict all Nazis as mindless monsters. It gives an impression of utter realism.

Der untergang is certainly the most impressive, depressive and realistic dramatic movie about the World War II ever made. It is awesome and comparable to Apocalypse now.

Watch this film if you like to study history.

Jane Eyre – Charlotte Bronte

Goodreads Rating: 4.3

The tale of a feisty orphan-girl-turned-governess who finds true love in a spooky mansion and ultimately redeems a tormented hero has made it to the top of every “Best Love Stories” list since it was first published in 1847, and with good reason. It’s the perfect Gothic novel, melding mystery, horror, and the classic medieval castle setting with heart-stopping romance.

This novel is a first-person narrative, set in the north of England, late in the reign of George III (1760–1820), and provides perspectives on a number of important social issues and ideas, many of which are critical of the status quo. It contains elements of social criticism, with a strong sense of Christian morality at its core, but is nonetheless a novel many consider ahead of its time given the individualistic character of Jane and the novel’s exploration of classism, sexuality, religion, and proto-feminism.

In 2003, the novel was ranked number 10 in the BBC’s survey The Big Read.

Nearly 30 movies have been made based on this novel. The following two movies are considered the best.

Jane Eyre (TV series 2006) IMDb Rating: 8.4

Director: Susanna White

Writers: Charlotte Brontë, Sandy Welch

Stars: Ruth Wilson (Jane Eyre), Toby Stephens (Rochester), Lorraine Ashbourne (Mrs. Fairfax)

A masterpiece TV mini-series, 3h 50min long. A young governess falls in love with her brooding and complex master. However, his dark past may destroy their relationship forever.

A wonderful adaptation of this classic Jane Eyre. A lavish production in all the right ways (script, cast, direction, location, details), this is a perfect literary adaptation. This is a compelling series, each episode leaves you anxious to see the next. The casting is excellent, the set designers, costume designers have excelled themselves and the lighting in particular is superb.

Jane Eyre (2011) IMDb Rating: 7.6

Director: Cary Fukunaga

Writers: Charlotte Brontë (novel), Moira Buffini (screenplay)

Stars: Mia Wasikowska (Jane Eyre), Michael Fassbender (Rochester), Jamie Bell (St John Rivers)

A mousy governess who softens the heart of her employer soon discovers that he’s hiding a terrible secret.

This is a beautifully filmed, engrossing, and haunting version of the classic Charlotte Bronte novel. This film is worth seeing and it will leave you thinking about it long after you have left the theater. It captures that otherworldly and isolated environment that Jane inhabits in her lonely life. After you witness the unloved childhood and brutal boarding school you can understand how Jane cannot only adapt to her isolated employment but revel in a world where the absence of abuse is a relief.

Mia Wasikowska in Jane Eyre_movie

The cinematography is beautiful particularly for the poetic rural England scenes, the sets and costumes look accurate, the screenplay handled well, and the directing outstanding.

Jaws – Peter Benchley

Goodreads Rating: 4.0

This novel tells the story of a great white shark that preys upon a small resort town and the voyage of three men trying to kill it. The novel grows out of Benchley’s interest in shark attacks after he learned about the exploits of shark fisherman Frank Mundus in 1964. Doubleday commissioned him to write the novel in 1971, a period when Benchley struggled as a freelance journalist.

After first publication in February 1974, the novel was a great success, with the hardback staying on the bestseller list for some 44 weeks and the subsequent paperback selling millions of copies in the following year. Reviews were mixed, with many literary critics finding the prose and characterization lacking despite the novel’s effective suspense.

Jaws (1975) IMDb Rating: 8.2

Director: Steven Spielberg

Writers: Peter Benchley (screenplay), Carl Gottlieb (screenplay)

Stars: Roy Scheider (Martin Brody), Robert Shaw (Quint), Richard Dreyfuss (Matt Hooper), Lorraine Gary (Ellen Brody), Murray Hamilton (Larry Vaughn), Peter Benchley (interviewer)

Film producers Richard D. Zanuck and David Brown read the novel before its publication and bought the film rights, selecting Steven Spielberg to direct the film adaptation. The Jaws film, omitted many of the novel’s minor subplots, focusing more on the shark and the characterizations of the three protagonists.

Jaws became the highest-grossing movie in history up to that point. The film quickly became a blockbuster of Steven Spielberg when he was just 29 years old.

Jurassic Park – Michael Crichton

Goodreads Rating: 4.0

An astonishing technique for recovering and cloning dinosaur DNA has been discovered. Now humankind’s most thrilling fantasies have come true. Creatures extinct for eons roam Jurassic Park with their awesome presence and profound mystery, and all the world can visit them – for a price. Until something goes wrong…

A previously unknown variety of three-toed lizard begins attacking children in Costa Rica. A sample carcass of the lizard is sent to a lab at Columbia University, where a lab technician, believing it is a dinosaur, calls the renowned paleontologist, Dr. Alan Grant. When Grant receives a fax of the lizard’s skeleton, he is shocked to see that it is in fact a dinosaur. Before he can investigate any further, however, Grant and his research partner, Dr. Ellie Sattler, are flown to Isla Nublar, an island off Costa Rica, as consultants for InGen, a bioengineering firm.

John Hammond, the owner of InGen and an important financial supporter of Grant’s fossil digs, has turned Isla Nublar into a zoo called Jurassic Park, which is stocked with dinosaurs that Dr. Wu has cloned by means of a breakthrough genetic engineering technology. Donald Gennaro, Hammond’s lawyer, is concerned about the safety of the park. Gennaro brings Grant, Sattler, and the mathematician Ian Malcolm, who is also acting as a consultant for InGen, to tour the island in an attempt to determine whether the place is safe enough for visitors.

Malcolm is particularly convinced that the island is doomed, and makes repeated reference to a mathematical principle called chaos theory as he predicts disaster. Another visitor to the island is Dennis Nedry, the computer technician who designed the park’s complicated computer network. Unbeknownst to Hammond and the others, the Biosyn Corporation, a rival bioengineering company, has enlisted Nedry to steal fifteen dinosaur embryos from the island for their own purposes.

Jurassic Park (1993) IMDb Rating: 8.1

Director: Steven Spielberg

Writers: Michael Crichton (novel), Michael Crichton (screenplay), David Koepp (screenplay)

Stars: Sam Neill (Dr. Alan Grant), Jeff Goldblum (Dr. Ian Malcolm), Laura Dern (Dr. Ellie Sattler), Richard Attenborough (John Hammond), Joseph Mazzello (Tim Murphy), Samuel L. Jackson (Ray Arnold), Bd Wong (Henry Wu), Wayne Knight (Dennis Nedry)

The film centers on the fictional Isla Nublar, an islet located off Central America’s Pacific Coast, near Costa Rica, where a billionaire philanthropist and a small team of genetic scientists have created a wildlife park of cloned dinosaurs. During a preview tour, the theme park suffers a major power breakdown that allows its cloned dinosaur exhibits to run amok.

A great science fiction action adventure film of all time, it is an underrated movie according to the IMDb ratings; it isn’t even in the top 250. The special effects creating the dinosaurs are fantastic. They are still good today, but they were revolutionary for back in 1993. The dinosaurs look very real in forms and movements. To showcase the film’s sound design, which included a mixture of various animal noises for the dinosaur roars, Spielberg invested in the creation of DTS.

The acting is good, and the ensemble cast is great. All of the action sequences are perfectly executed, creating plenty of suspense and tension.

Kane and Abel – Jeffrey Archer

Goodreads Rating: 4.3

The book tells the stories of two men born worlds apart. They have nothing in common except the same date of birth (18 April 1906) and a zeal to succeed in life. William Lowell Kane is a wealthy and powerful Boston Brahmin while Abel Rosnovski (originally named Wladek Koskiewicz) is a Pole who was born in a situation of great poverty and eventually migrated to the United States. Their paths destined to cross in their ruthless struggle to build a fortune.

An unputdownable story, spanning sixty years, of two powerful men linked by an all-consuming hatred, brought together by fate to save―and finally destroy―each other.

The book was an international success. It reached No. 1 on The New York Times best-seller list. It is among the top 100 list of best-selling books in the world, with a similar number of copies sold as To kill a mockingbird and Gone with the wind.

In 2003, Kane and Abel was listed at number 96 on the BBC’s survey The Big Read.

Kane and Able (TV series 1985) IMDb Rating: 7.9

Director: Buzz Kulik

Writers: Jeffrey Archer, Robert W. Lenski

Stars: Peter Strauss (Abel Rosnovski), Sam Neill (William Lowell Kane), Ron Silver    (Thaddeus Cohen), David Dukes (David Osborne), Fred Gwynne (Davis LeRoy), Thomas Byrd (Richard Kane), Alberta Watson (Zofia Rosnovski), Reed Birney (Matthew Lester), Vyto Ruginis (George Nowak), Jill Eikenberry (Susan Lester), Richard Anderson (Alan Lloyd), Kate McNeil (Florentyna Rosnovski)

Kane and Abel are born on the same day the same year on each side of the Atlantic. William Kane is born in one of the richest families of Boston and grows up to be a banker on Wall Street. Abel Rosnovski is born in the Polish countryside and has to spend many years in Siberian prison camps before he travels to New York and eventually creates one of the world’s largest chains of hotels. The confrontation between these two men, both striving for power and success, will make the finance capital of the world tremble.

This series is considered to be the best of all times up to 1985, and now collectors find hard to get it. (The movies are uploaded onto YouTube but the image quality is low.) The cast is good, the image is beautiful, and the music is nice.

The drawback is that the series are short and cannot show all important details of the book, leaving the audience perplexed. For example, we do not see William and Kate get married or have children, and suddenly they have a 12 year old son at St. Paul’s. We do not know that many years have passed before Abel and Zaphia are divorced, but it only takes one scene for the movie to do it.

Lady Chatterley’s lover – D. H. Lawrence

Goodreads rating: 3.5

This novel was first published privately in 1928 in Italy, and in 1929 in France and Australia. An unexpurgated edition was not published openly in the United Kingdom until 1960, when it was the subject of a watershed obscenity trial against the publisher Penguin Books. Penguin won the case, and quickly sold 3 million copies. The book was also banned for obscenity in the United States, Canada, Australia, India and Japan. The book soon became notorious for its story of the physical (and emotional) relationship between a working class man and an upper class woman, its explicit descriptions of sex, and its use of then-unprintable words.

The story is said to have originated from events in Lawrence’s own unhappy domestic life, and he took inspiration for the settings of the book from Eastwood, Nottinghamshire, where he grew up. According to some critics, the fling of Lady Ottoline Morrell with “Tiger”, a young stonemason who came to carve plinths for her garden statues, also influenced the story.

The story concerns a young married woman, the former Constance Reid (Lady Chatterley), whose upper class husband, Sir Clifford Chatterley, described as a handsome, well-built man, has been paralyzed from the waist down due to a Great War injury. In addition to Clifford’s physical limitations, his emotional neglect of Constance forces distance between the couple. Her emotional frustration leads her into an affair with the gamekeeper, Oliver Mellors.

Lady Chatterley’s lover (TV series 1993) IMDb Rating: 7.0

Director: Ken Russell

Writers: Michael Haggiag, D.H. Lawrence…

Stars: Joely Richardson (Lady Connie Chatterley), Sean Bean (Mellors), James Wilby (Clifford Chatterley), Shirley Anne Field, Hetty Baynes

4 episodes, total length 3h 25 min, enough to present all dialogs. The image is excellent. The actors Joely Richardson and Sean Bean did a superb job at presenting to the audience the sexual intimacy and how they were affected by the social ramifications of their relationship.

This is a good quality love story that includes all the social politics, the old-world class distinctions, and the many other elements that make up the relationship of the couple involved. If you liked the books, you will most likely enjoy this movie as well.

Lady Chatterley’s lover (2006) IMDb Rating: 6.8

Director: Pascale Ferran

Writers: Roger Bohbot, Pascale Ferran, D.H. Lawrence (novel)

Stars: Marina Hands, Jean-Louis Coulloc’h, Hippolyte Girardot

If you want to see a film about a beautiful but bored, aristocratic woman whose sensuality is suddenly re-awakened by her meeting with a sullen, unsociable but virile gamekeeper, then this film is for you. Pascale Ferran seemed to have focused her film on the love-story between Lady Constance/Connie and Parkin, and the discovery or re-discovery of one’s senses. That is why there are beautiful shots of nature, of magnificent trees in spring and why you have many scenes in which Constance is walking in the forest and just listening to the songs of birds. The forest is also the place where she discovers her own sensuality. The actors are brilliant, they magnificently show all sorts of emotions on their faces and the love-making scenes are all made with much reserve, with subtlety… It is all refined and very beautifully-done.

The film got 10 nominations and 11 wins including 5 César Awards (French Oscar): Best Film, Bess Actress, Best Adapted Screenplay, Best Cinematography, and Best Costume Design.

Le Comte de Monte-Cristo (The Count of Monte Cristo) – Alexandre Dumas, père

Goodreads rating:

Le Comte de Monte-Cristo by Alexandre Dumas, père: 4.2 The Count of Monte Cristo, translation by Beatrice Conway: 4.2 The Count of Monte Cristo, translation by Clare West: 4.5

An adventure novel. The story takes place in France, Italy, and islands in the Mediterranean during the historical events of 1815–1839: the era of the Bourbon Restoration through the reign of Louis-Philippe of France. It begins just before the Hundred Days period (when Napoleon returned to power after his exile). The historical setting is a fundamental element of the book, an adventure story primarily concerned with themes of hope, justice, vengeance, mercy, and forgiveness. It centers on a man who is wrongfully imprisoned, escapes from jail, acquires a fortune, and sets about exacting revenge on those responsible for his imprisonment. His plans have devastating consequences for both the innocent and the guilty. The book is a story of romance, loyalty, betrayal, vengeance, selfishness, and justice.

The book is considered a literary classic today. According to Luc Sante, The Count of Monte Cristo has become a fixture of Western civilization’s literature, as inescapable and immediately identifiable as Mickey Mouse, Noah’s flood, and the story of Little Red Riding Hood.

The Count of Monte Cristo (2002) IMDb Rating: 7.8

Director: Kevin Reynolds

Writers: Alexandre Dumas (novel), Jay Wolpert (screenplay)

Writers: Didier Decoin (writer), Alexandre Dumas (novel)

Stars: Jim Caviezel, Guy Pearce, Richard Harris, Dagmara Dominczyk, Michael Wincott, Luis Guzmán

Great performances, exciting story, and a fun wit, this film has everything that was terrific in Dumas’ original novel and then twists it all up to adapt perfectly to the screen but doesn’t stray to far.

To adapt a 1,000-page book into a 2-hour film, this film is really a success. Great performances, exciting story, and a fun wit, this film has everything that was terrific in Dumas’ original novel and then twists it all up to adapt perfectly to the screen but doesn’t stray to far. Full of lavish costuming, sumptuous sets, beautiful locations, dashing men, a gorgeous damsel, dank dungeons, the ever popular swashbuckling etc., all supported with a classic story makes for solid entertainment.

Le Comte de Monte-Cristo (TV series 1998) IMDb Rating: 8.0

4 episodes, total length 6h 40min.

Director: Josée Dayan

Stars: Gérard Depardieu (Abbé Busoni), Ornella Muti ( Mercedes), Jean Rochefort (Fernand De Morcerf), Pierre Arditi (Villefort), Sergio Rubini (Bertuccio), Florence Darel (Camille De La Richardais), Christopher Thompson (Maximilien Morrel)

This is considered to be the best adaptation of The Count of Monte Cristo since 1934. The veteran Gérard Depardieu is fabulous as the Count, a man who, as the reviewer from Amazon says, exchanges one prison for another, a prison of his own hatred. The cast is general is very good and convincing, with Ornella Muti certainly the definitive Mercedes. Set design and production values are excellent.

Bearing in mind the great length of the original novel, simplification of the sub-plots are inevitable in any screen version, although the extended running time of this TV series allows much of the text to be brought to the screen faithfully.

One of the most powerful films of any venue ever made. If you have the patience to view the extended version here, it is a rewarding and finally well crafted adaption of a most difficult subject.

Le tour du monde en 80 jours – Jules Verne

Goodreads Rating: 3.8

The story starts in London on Tuesday, 1 October 1872.

Phileas Fogg is a rich British gentleman living in solitude. Despite his wealth, Fogg lives a modest life with habits carried out with mathematical precision. Very little can be said about his social life other than that he is a member of the Reform Club. Having dismissed his former valet, James Forster, for bringing him shaving water at 84 °F (29 °C) instead of 86 °F (30 °C), Fogg hires a Frenchman by the name of Jean Passepartout as a replacement.

At the Reform Club, Fogg gets involved in an argument over an article in The Daily Telegraph stating that with the opening of a new railway section in India, it is now possible to travel around the world in 80 days. He accepts a wager for £20,000 (£2,075,400 in 2017)[5] from his fellow club members to complete such a journey within this time period. With Monsieur Passepartout accompanying him, Fogg departs from London by train at 8:45 p.m. on 2 October; if he is to win the wager, then he will have to return to the club by this same time on 21 December, 80 days later.

Around the world in eighty days was written during difficult times, both for France and for Verne. It was during the Franco-Prussian War (1870-1871) in which Verne was conscripted as a coastguard; he was having financial difficulties (his previous works were not paid royalties); his father had died recently; and he had witnessed a public execution, which had disturbed him. Despite all this, Verne was excited about his work on the new book, the idea of which came to him one afternoon in a Paris café while reading a newspaper.

Around the world in eighty days (1956) IMDb Rating: 6.8

Director: Michael Anderson

Writers: James Poe (screenplay), John Farrow (screenplay), Jules Verne (book)

Stars: David Niven (Phileas Fogg), Cantinflas (Passepartout), Finlay Currie (Andrew Stuart), Robert Morley (Ralph – Bank of England Governor), Fernandel (French coachman), Charles Boyer (Monsieur Gasse – Thomas Cook Paris clerk), Shirley MacLaine (Princess Aouda), Charles Coburn (Steamship Company Hong Kong clerk), Marlene Dietrich (Barbary Coast saloon owner), Frank Sinatra (Barbary Coast saloon pianist)

Michael Todd’s screen adaptation of Jules Verne’s classic novel is a masterpiece.

Beautifully shot in over 100 different locations around the world, it is one of the few novels which actually benefits from big screen treatment. No longer do we have to imagine these fine exotic places in our minds, they are presented here in full cinematic and Technicolour brilliance.

The great David Niven, always a joy to watch, plays the quintessential English gentleman to the hilt as Philias Fogg, the well to do bachelor who after calmly announcing that it was possible, accepts a £20,000 wager. In tow on this marathon voyage are newly appointed man servant Passepartout played by Mexican entertainer Cantinflas, Shirley MacLaine as Aouda a recently rescued Indian Princess, and the lovable and ever watchable Robert Newton as Mr. Fix the detective who is convinced Fogg is a master criminal.

Yet what adds flavor to an already wonderful story and fascinating movie, is that no matter what corner of the globe our intrepid Fogg appears, he is helped, hindered, slowed down, befriended and attacked by a myriad of world renowned movie stars. Never before or since has a film boasted so many top named stars in cameo appearances.

In spite of negative comments that it’s long, it’s a fantasy rather than true-to-life, it’s spectacular rather than deep drama, it’s also (like the book) a hilarious send-up of Englishness as seen by a Frenchman.

The film won 5 Oscars: Best Picture, Best Screenplay – Adapted, Best Cinematography, Color, Best Film Editing, Best Music, Scoring of a Dramatic or Comedy Picture.

Legends of the Fall – Jim Harrison

Goodreads Rating: 4.1

The novell Legends of the fall, an epic tale of three brothers and their lives of passion, madness, exploration and danger at the beginning of the Great War, confirms Jim Harrison’s reputation as one of the finest American writers of his generation.

Legends of the fall (1994) IMDb: 7.5

Director: Edward Zwick

Writers: Susan Shilliday (screenplay), William D. Wittliff (screenplay), Jim Harrison (novel)

Stars: Brad Pitt (Tristan Ludlow), Anthony Hopkins (Col. Ludlow), Julia Ormond (Susannah), Aidan Quinn (Alfred Ludlow), Henry Thomas (Samuel Ludlow)

Three outstanding stars do not disappoint the audience: Brad Pitt, Anthony Hopkins và Julia Ormond.

Legends of the fall is the sort of epic melodrama that only Hollywood can do this well. It’s a spectacle more than a show, with soaring moments of triumph and tragedy. Words like “restraint” and “subtle” are meaningless in this context. The latest offering from Edward Zwick, the director of Glory, is the kind of movie that doesn’t require much effort to surrender to and enjoy.

At the center of Susan Shilliday and Bill Wittliff’s script are the three Ludlow brothers: Alfred, the oldest and most straight-laced; Tristan, the middle child with a special affinity for nature; and Samuel, the youngest and most idealistic. The family’s patriarch is Col. Ludlow, an officer who left the U.S. army when he disagreed with the treatment of the Indians. The four men, along with an assortment of friends, live in the Montana Rockies, away from the trappings – if not the presence – of civilization.

Legends in the fall 2
Susannah and Tristan

It would be difficult to find any more affectionate and caring brothers than Alfred, Tristan, and Samuel – until one woman turns all three lives upside down. Hailing from Boston, Susannah is engaged to Samuel. However, the impending marriage can’t prevent both of his brothers from falling for her, and she for at least one of them.

The film was nominated for the Academy Awards for Best Cinematography, Best Art Direction, and Best Sound, and won the category for Best Cinematography. In addition, the film was nominated for the Golden Globes for Best Picture – Drama, Best Actor – Drama (Brad Pitt), Best Director, and Best Original Score.

Les misérables (The wretched) – Victor Hugo

Goodreads rating: 4.2

This French historical novel first published in 1862, that is considered one of the greatest novels of the 19th century. In the English-speaking world, the novel is usually referred to by its original French title. Apart from the translation title, several alternatives have been used, including The Miserables, The miserable ones, The poor ones, The wretched poor, The victims and the dispossessed. Beginning in 1815 and culminating in the 1832 June Rebellion in Paris, the novel follows the lives and interactions of several characters, particularly the struggles of ex-convict Jean Valjean and his experience of redemption.

Les misérables (2012) IMDb Rating: 7.6

Director: Tom Hooper

William Nicholson (screenplay) & Alain Boublil (screenplay), Alain Boublil (based on the original stage musical Les misérables) (as Boubil), Claude-Michel Schönberg (based on the original stage musical Les misérables) (as Schönberg), Victor Hugo (based on the novel)

Stars: Hugh Jackman, Russell Crowe, Anne Hathaway, Amanda Seyfried, Sacha Baron Cohen, Helena Bonham Carter, Eddie Redmayne, Aaron Tveit, Samantha Barks, Daniel Huttlestone, Cavin Cornwall, Josef Altin, Dave Hawley, Adam Jones, John Barr

A well-executed and powerful musical. Tom Hooper’s direction and the cinematography, costumes, art design and editing are nothing short of genius.

Hooper’s idea to have the actors sing live really brings a deeper emotion to the film not seen in other movie musicals. Hugh Jackman is absolutely incredible as Jean Valjean and carries the film with spectacular grace. Anne Hathaway is magnificent in her fleeting role as Fantine – the film’s sequence in which she goes on a downward spiral is one of the its best moments, and her rendition of I dreamed a dream is absolutely incredible heartfelt.

The film received 3 Oscars: Best Actress in a Supporting Role (Anne Hathaway), Best Makeup and Hairstyling, and Sound Mixing, another 81 wins and 172 nominations.

Les misérables (1958) IMDb Rating: 7.6

Director: Jean-Paul Le Chanois

Michel Audiard (writer), René Barjavel (writer), Victor Hugo (novel), Jean-Paul Le Chanois (writer)

Stars: Jean Gabin (Jean Valjean / Champmathieu), Bernard Blier (Javert, cha và con), René Fleur (Đức Hồng y), Julienne Paroli (Madame Magloire, Fernand Ledoux (Monseigneur Myriel)

Those do not like musical should watch this French-made film. Patience is required: the film is 3h 30min long.

In this movie adaptation, much effort is made in accuracy to not only the plot of Victor Hugo’s novel, but the atmosphere and characters. Scenes are filmed as near to where they actually took place in the book as possible, and characters reflect the Hugo’s original intentions. The plot is concise enough to be understandable, but full enough to give the viewer a true sense of Hugo’s message. Overall, it is a wonderful adaptation and an excellent film.

Life of Pi – Yann Martel

Goodreads rating: 3.9

This is a Canadian fantasy adventure novel by Yann Martel published in 2001. The protagonist is Piscine Molitor “Pi” Patel, an Indian boy from Pondicherry who explores issues of spirituality and practicality from an early age. He survives 227 days after a shipwreck while stranded on a lifeboat in the Pacific Ocean with a Bengal tiger named Richard Parker.

The novel has sold more than ten million copies worldwide. It was rejected by at least five London publishing houses before being accepted by Knopf Canada, which published it in September 2001. The UK edition won the Man Booker Prize for Fiction the following year. It was also chosen for CBC Radio’s Canada Reads 2003, where it was championed by author Nancy Lee.

Life of Pi (2013) IMDb Rating: 8.0

Director: Ang Lee

Writers: Yann Martel (novel), David Magee (screenplay)

Stars: Suraj Sharma, Irrfan Khan, Rafe Spall, Tabu, Adil Hussain, Gérard Depardieu.

Life of Pi received highly positive reviews, with praise directed towards the visual effects, Ang Lee’s direction, David Magee’s screenplay, Mychael Danna’s musical score, and the editing.

Life-of-Pi-IMAGE

Life of Pi emerged as a critical and commercial success, earning over US$ 609 million worldwide. It was nominated for 3 Golden Globe Awards which included the Best Picture – Drama and the Best Director and won the Golden Globe Award for Best Original Score. It had 11 Oscar nominations, including Best Picture and Best Adapted Screenplay, and won four (the most for the event) including Best Director for Ang Lee.

Lu ding ji (The deer and the cauldron) – Jin Yong (Louis Cha)

Goodreads Rating: 4.3

This is novel by Jin Yong is the last and longest of his novels, also his favorite. This is really a big book, not only in pages, thousands, but also in scope. Although the book is often referred to as a wuxia (martial hero) novel, it is not quite typical of the genre: the protagonist, Wei Xiaobao, is not an adept martial artist, but rather an antihero who relies on wit and cunning to get out of trouble.

Set in the 1600’s after the Ming dynasty of native Hans has been replaced by the Manchu dynasty of conquerors, the book chronicles the exploits of Trinket, a bastard born in a whore house. There are many themes in the book, including the origin of the Triad Societies formed to revolts against the Manchus, the brutality of Chinese life, i.e., whole families would be wiped out if one offended the emperor, the complexity of life in the Forbidden city, Eunuchs who managed it, innocence and joy of boyhood friendships, intrigue by concubines, and of course blazing kung fu, defined here elegant execution through practice. Trinket was almost a coyote figure, doing silly, egotistical things, but always landing on his feet. The plotting was excellent, making the coincidences of Trinket falling into being best friends with the boy emperor or becoming a master of a Triad society plausible. Also Yong’s ability to be extremely descriptive of settings.

Lu ding ji – Royal tramp (TV series 2008-2009) IMDb Rating: 6.3

Director: Jian Zhao

50 episodes

Stars: Huang Xiaoming (Wei Xiaobao), Wallace Chung (Kangxi Emperor), He Zhuoyan (Shuang’er), Shu Chang (Princess Jianning), Liu Yun (Mu Jianping), Cherrie Ying (A’ke), Qiao Zhenyu (Zheng Keshuang), He Jiayi (Jiunan), Tan Feiling (Songgotu), Elvis Tsui (Oboi), Ning Jing (Chen Yuanyuan), Li Chengru (Xingchi, Shunzhi Emperor), Zhong Liang (Wu Yingxiong), Tu Men (Wu Sangui), Yu Chenghui (Feng Xifan), Li Xintong (A’qi), Li Zefeng (Gui Zhong), Shen Baoping (Gui Xinshu), Yan Guanying (Fat Monk), Qin Weidong (Thin Monk), Wang Jianguo (Qi Qingbiao), Chen Zhihui (Li Zicheng), Huang Gexuan (Galdan Boshugtu Khan), Ren Baocheng (Shi Lang), Zhao Guixiang (Gu Yanwu), Hu Qingshi (Zha Jizuo), Chen Zhou (Lü Liuliang), Wang Bing (Bayan), Dong Zhigang (Yu Lin), Carrie (Sophia Alekseyevna), Henry (Fedor Golovin)

In comparison with the previous versions, this one has good casting, attractive actresses, and elaborate setting and beautiful costume, while the book story is adhered to. The versions later deviate too much from the book, causing dislike among the audience.

Overall, this version is better balance in quality in all aspects compared with previous and later versions.

Memoirs of a geisha – Arthur Golden

Goodreads Rating: 4.1

This novel, told in first person perspective, tells the story of a fictional geisha working in Kyoto, Japan, before and after World War II.

It begins in a poor fishing village in 1929, when, as a nine-year-old girl with unusual blue-gray eyes, she is taken from her home and sold into slavery to a renowned geisha house. We witness her transformation as she learns the rigorous arts of the geisha: dance and music; wearing kimono, elaborate makeup, and hair; pouring sake to reveal just a touch of inner wrist; competing with a jealous rival for men’s solicitude and the money that goes with it.

In Memoirs of a geisha, we enter a world where appearances are paramount; where a girl’s virginity is auctioned to the highest bidder; where women are trained to beguile the most powerful men; and where love is scorned as illusion. It is a unique and triumphant work of fiction – at once romantic, erotic, suspenseful – and completely unforgettable.

Memoirs of a geisha (2005) IMDb Rating: 7.4

Director: D.J. Caruso, Rob Marshall

Writers: Robin Swicord (screenplay), Arthur Golden (book)

Stars: Ziyi Zhang (Sayuri), Gong Li (Hatsumomo), Michelle Yeoh (Mameha), Suzuka Ohgo (Chiyo), Togo Igawa (Tanaka),

Ironically, the director is American, the three main actresses are Chinese and the story is Japanese. Nevertheless, the film is a great success. All three are fine actresses and they more than proved that in this film. All three just light up the screen. Marshall made good decisions: he has not slighted Japanese culture too much, but he has made a suspenseful, captivating, enchanting film that does something a lot of films haven’t in recent years.

All in all, the movie is fantastic, and if people can just look beyond worrying about the nationality of a character who is supposed to be Japanese, they will enjoy the movie.

The film won 3 Oscars: Cinematography, Art Direction, and Costume Design, and got another 27 wins & 44 nominations.

One flew over the cuckoo’s nest – Ken Kesey

Goodreads Rating: 4.5

From the 1962 Jacket:

Like George Orwell and Philip Wylie, Ken Kesey is concerned with man’s battle to be himself in a world of increasing controls, the battle of joy and freedom against a society which fosters guilt and shame. His first novel, One flew over the cuckoo’s nest, tells the story of a struggle between a man and a woman for the spirits and hearts of a group of people who have been defeated by the world.

The setting for these defeated lives is a mental institution. The teller of the story, a half-Indian and a long-time inmate, has made the most complete retreat from life of all of them; he will not talk, and he has fooled the staff into thinking he is deaf and dumb. But through his self-imposed protective fog he is an acute observer. His vision of the life around him seems to have a truth which is beyond the definitions of sanity or insanity.

Into this gray world comes McMurphy, a brawling, gambling man, full of spirit and a glorious lust for life. He is horrified by the docility with which the other men accept the rule of the Big Nurse and decides to fight her on her own terms. The battle begins, for him, as a lark – a way of winning the bets he has made with the men. And then, as he becomes more aware of the terrible dangers in it, and more committed to the others who have come to count on him for their own survival, his decision to go on is a heroic act of sacrifice and compassion.

One flew over the cuckoo’s nest (1975) IMDb Rating: 8.7 (Top rated movies #16)

Director: Milos Forman

Stars: Jack Nicholson (Randle Patrick McMurphy), Louise Fletcher (Điều dưỡng trưởng Ratched), Will Sampson (“Chief” Bromden), Brad Dourif (Billy Bibbit), Michael Berryman, Scatman Crothers, Mwako Cumbuka, Danny DeVito, William Duell

One-Flew-Over-The-Cuckoos-Nest-1975-HD

The film portrays the horrible truth about how patients were treated in mental institutions back then, and tells the story of someone who desperately wanted to break out, to rebel, to change things, for himself and for the others.

We can see excellent storyline, top notch acting, painfully bleak visuals, perfectly setting the tone for the movie, and alternates between being truly uplifting to devastatingly depressing.

The film set a record that time: it grossed USD 109 million in the American market whereas the total expense was only USD 4.4 million.

The film got 35 wins including 5 Oscars: Best Picture, Best Actor in a Leading Role, Best Actress in a Leading Role, Best Director, Screenplay Adapted From Other Material. These five most important prizes constitute the “Oscar Grand Slam”, and only two other films got it: It happened one night (1934) and The silence of the lambs (1991).

Out of Africa – Isak Dinesen & Karen Blixen

Goodreads Rating: 4.0

This is Isak Dinesen’s memoir of her years in Africa, from 1914 to 1931, on a four-thousand-acre coffee plantation in the hills near Nairobi. She had come to Kenya from Denmark with her husband, and when they separated she stayed on to manage the farm by herself, visited frequently by her lover, the big-game hunter Denys Finch-Hatton, for whom she would make up stories “like Scheherazade.” In Africa, “I learned how to tell tales,” she recalled many years later. “The natives have an ear still. I told stories constantly to them, all kinds.” Her account of her African adventures, written after she had lost her beloved farm and returned to Denmark, is that of a master storyteller, a woman whom John Updike called “one of the most picturesque and flamboyant literary personalities of the century.”

Out of Africa (1985) IMDb Rating: 7.2

Director: Sydney Pollack

Writers: Karen Blixen (based upon Out of Africa and other writings), Judith Thurman (book)…

Stars: Meryl Streep (Karen), Robert Redford (Denys), Klaus Maria Brandauer (Bá tước Bror Blixen), Michael Kitchen (Berkeley), Malick Bowens (Farah), Joseph Thiaka (Kamante), Stephen Kinyanjui (Kinanjui)

The breathtaking cinematography and transporting musical score would make a viewing worthwhile.

Out of Africa 4

Meryl Streep is great as Karen Blixen. She manages to maintain the realistic Danish accent through the whole film. Redford is great as Denys Finch-Hatton, the Etonian hunter who keeps companion in her loneliest and hardest. But the real attraction of the film is the outstanding photography of the African landscape together with the sweeping John Barry soundtrack that is probably the most beautiful movie soundtrack of the 1980s. Out of Africa will be regarded as Sydney Pollack’s asterpiece and a Classic of our times.

The film got 7 Oscars: Best Picture, Best Director, Best Writing, Screenplay Based on Material from Another Medium, Best Cinematography, Best Art Direction-Set Decoration, Best Sound, Best Music, Original Score. Meryl Streep got nomination for Best Actress but lost it to Geraldine Page in The trip to bountiful.

With a production budget of some USD 31 million, the film grossed more than USD 258 million. This is beyond imagination, because a love movie seldom has such attraction.

Pride and prejudice – Jane Austen

Goodreads Rating: 4.3

One of the world’s most popular novels. It tells the story of fiercely independent Elizabeth Bennett, one of five sisters who must marry rich, as she confounds the arrogant, wealthy Mr. Darcy. What ensues is one of the most delightful and engrossingly readable courtships known to literature, written by a precocious Austen when she was just twenty-one years old.

Humorous and profound, and filled with highly entertaining dialogue, this witty comedy of manners dips and turns through drawing-rooms and plots to reach an immensely satisfying finale. In the words of Eudora Welty, Pride and prejudice is as “irresistible and as nearly flawless as any fiction could be.”

This novel has s strange feature in that the first one-third is boring such that the reader may want to stop, the next one-third is more interesting, and the last one-third is really fascinating. Those who do not have enough patience to read the book should watch one or both films below.

Pride and prejudice (TV series 1995) IMDb Rating: 9.0

Director: Simon Langton

Writers: Jane Austen, Andrew Davies

Stars: Jennifer Ehle (Elizabeth Bennet), Colin Firth (Mr Darcy), Susannah Harker (Jane Bennet), Julia Sawalha (Lydia Bennet), Alison Steadman (Mrs. Bennet), Benjamin Whitrow (Mr. Bennet), Crispin Bonham-Carter (Mr Bingley), Polly Maberly (Kitty Bennet), Lucy Briers (Mary Bennet), Anna Chancellor (Miss Bingley), Lucy Robinson (Mrs Hurst), Adrian Lukis (Wickham), David Bamber (Mr Collins), Lucy Scott (Charlotte Lucas), Lucy Davis (Maria Lucas), Emilia Fox (Georgiana Darcy), Barbara Leigh-Hunt (Lady Catherine de Bourgh), Tim Wylton  (Mr. Gardiner), Rupert Vansittart (Mr Hurst), Joanna David (Mrs. Gardiner), Nadia Chambers (Miss Anne de Bourgh), Christopher Benjamin (Sir William Lucas)

6 episodes, total length 5h 27min.

P&amp;P 2This version, made by BBC, receives mostly comments positive. It is faithful to the book, particularly capturing the spirit of the book and the energy and constant tension of the story. It excellently portrays the world of the book as it relates to the story, with keen attention to the details of costume, the furniture, etc. The women who were of higher stature were properly attired in their jewels and every costume fit the character and situation beautifully. This and the musical score are two of the biggest highlights

This writer, also a translator of a book, thinks Elizabeth looks too serious, even too old for the girl of 20 years old. Yes, she is witty, yes, she is sharp-tongued, but she should not look so serious. One weak link in the chain of superb acting is Alison Steadman who over-acted, turning her Mrs Bennet into a nerve-grating, neurasthenic caricature to the point of ridiculous. Otherwise the series excelled in every other aspect.

Pride and prejudice (2005) IMDb Rating: 7.8

Director: Joe Wright

Stars: Keira Knightley, Matthew Macfadyen, Brenda Blethyn

The common audience may find this film fabulous if they do not compare this “modernized” version with the BBC 1995 series.

The write thinks Elizabeth through Keira Knightley is too aggressive, to the point of insolence, espetially when Mr Darcy expressed his love to her. Elizabeth is strong-minded, but not insolent.

After seeing the film or re-visiting 1995 BBC TV series, read the original novel for its classic storyline, memorable characters & Austen’s brilliant writing style, wit and humor.

Romeo and Juliet – Shakespeare

Goodreads Rating: 4.1

In Romeo and Juliet, Shakespeare creates a world of violence and generational conflict in which two young people fall in love deeply. The story is rather extraordinary in that the normal problems faced by young lovers are here so very large. It is not simply that the families of Romeo and Juliet disapprove of the lover’s affection for each other; rather, the Montagues and the Capulets are on opposite sides in a blood feud and are trying to kill each other on the streets of Verona.

What is so striking about this play is that despite its extraordinary setting (one perhaps reflecting Elizabethan attitudes about hot-blooded Italians), it has become the quintessential story of young love.

Romeo and Juliet (1968) IMDb Rating: 7.6

Director: Franco Zeffirelli

Writers: William Shakespeare (play), Franco Brusati (screenplay)…

Stars: Leonard Whiting, Olivia Hussey, John McEnery, Milo O’Shea, Pat Heywood, Robert Stephens, Michael York, Bruce Robinson

This was the first time we actually saw the teenage love Shakespeare intended. Leonard Whiting and Olivia Houssey gave life to the story told in this ancestral tale, revamping it without betraying it, making it accessible to a 60s audience without updating it. Leonard and Olivia were so beautiful that Shakespeare became trendy again. The real, stunning, dusty locations, the costumes, the faces, the music made the whole thing a totally new Shakespearean experience. Here everything reeked of youth underlining the story in the most cinematic way. Another important point is to confirm that in 2007 the film still feels young and fresh.

The film won 2 Oscars: Best Cinematography and Best Costume Design, plus another 14 wins & 15 nominations.

Schlinder’s ark; Schlinder’s list – Thomas Keneally

Goodreads Rating: 4.3

Thomas Keneally (1935- ) a book winning the Booker Prize from a story told by Poldek Pfefferberg (1913-2001), the holocaust survivor.

In 1980 Thomas Keneally was in Beverley Hills returning from the Sorrento film festival where a film based on his book had been showing. Looking for a new briefcase, he walked into a leather-goods store. The proprietor, an elderly Polish Jew named Poldek Pfefferberg, hears that Keneally is a novelist and so tells him “the greatest story of humanity man to man”. It is about Schindler, that “all-drinking, all-screwing, all black-marketeering Nazi”.

From his Sydney home, Thomas tracked down the main players in the story of Poldek and of Oskar Schindler, who is to Poldek like a Noah. He and Poldek travelled across the US, Germany, Israel, Austria and Poland interviewing survivors and discovering extraordinary stories.

The improbable meeting of a Polish survivor and an Australian novelist inspired a Booker winner Schindler’s Ark. First publicized as fiction so that it might enter the Booker, from 1993 onwards the book has been published under the title Schindler’s List, marketed as a true story.

Later, Poldek served as a consultant for the production of the film Schindler’s List.

Schindler’s list (1993) IMDb Rating: 8.9 (Top rated movies #6)

Director: Steven Spielberg

Writers: Thomas Keneally (book), Steven Zaillian

Stars: Norbert Weisser (Albert Hujar), Friedrich Von Thun (Rolf Czurda), Ben Kingsley (Itzhak Stern), Ralph Fiennes (Amon Goeth), Mark Ivanir (Marcel Goldberg), Caroline Goodall (Emilie Schindler), Liam Neeson (Oskar Schindler)

The film follows Oskar Schindler, a Sudeten German businessman, who saved the lives of more than a thousand mostly Polish-Jewish refugees from the Holocaust by employing them in his factories during World War II.

The film was made in black and white, except for one scene showing a little girl in a red coat. She comes from the memories of a camp survivor who, while interviewed by Spielberg before the movie, talked about a little girl in a red/pink coat who was shot in front of him by a Nazi officer.

Be gai mau do 2

In the movie, she represents the horrible reality that comes to Schindler’s mind when he sees her body (with the red coat around her) in the pile of all the dead Jews. When before he wasn’t really concerned, after seeing the body he takes a big hit of the reality around him and that’s probably when he decides to turn around the Nazis and try to save Jews.

Often listed among the greatest films ever made, the film Schindler’s list was also a box office success, earning $321.2 million worldwide on a $22 million budget. It was the recipient of seven Academy Awards (out of twelve nominations), including Best Picture, Best Director, Best Adapted Screenplay, and Best Original Score, as well as numerous other awards (including seven BAFTAs and three Golden Globes). In 2007, the American Film Institute ranked the film 8th on its list of the 100 best American films of all time. The Library of Congress selected it for preservation in the National Film Registry in 2004.

Sense and sensibility – Jane Austen

Goodreads Rating: 4.1

Marianne Dashwood wears her heart on her sleeve, and when she falls in love with the dashing but unsuitable John Willoughby she ignores her sister Elinor’s warning that her impulsive behavior leaves her open to gossip and innuendo. Meanwhile Elinor, always sensitive to social convention, is struggling to conceal her own romantic disappointment, even from those closest to her. Through their parallel experience of love – and its threatened loss – the sisters learn that sense must mix with sensibility if they are to find personal happiness in a society where status and money govern the rules of love.

Sense and sensibility (1995) IMDb Rating: 7.7

Director: Ang Lee

Writers: Jane Austen (novel), Emma Thompson (screenplay)

Stars: Emma Thompson (Elinor Dashwood), Kate Winslet (Marianne Dashwood), James Fleet (John Dashwood), Tom Wilkinson (Mr. Dashwood), Harriet Walter (Fanny Dashwood), Gemma Jones (Mrs. Dashwood), Hugh Grant (Edward Ferrars), Alan Rickman (Colonel Brandon), Robert Hardy (Sir John Middleton), Greg Wise (John Willoughby), Elizabeth Spriggs (Mrs. Jennings), Ian Brimble (Thomas)

This BBC production is one of the best of the recent Jane Austen films. Emma Thompson has done a fine job of the script, not slavishly remaining faithful to the book but not abandoning it either.

The cast are uniformly excellent, especially Kate Winslet, Alan Rickman and Hugh Grant. Emma Thompson’s performance is almost good enough to make you forget that she is far to old for the part. The supporting cast are all excellent.

Ang Lee’s direction is skillful, while the scenery and costumes are beautiful, perhaps too beautiful.

This is more romantic and less comic, and Thompson’s script wisely stays away from the kind of set-piece gags seen in the recent films. All in all, this is a very good adaptation.

Sense and sensibility (TV series 2008) IMDb Rating: 8.1

Director: John Alexander

Stars: Dominic Cooper (Willoughby), Charity Wakefield (Marianne Dashwood), Hattie Morahan (Elinor Dashwood), Janet McTeer (Mrs. Dashwood), Lucy Boynton (Margaret Dashwood), David Morrissey (Colonel Brandon), Linda Bassett  (Mrs Jennings), Mark Williams (Sir John Middleton), Claire Skinner (Fanny Dashwood), Rosanna Lavelle (Lady Middleton), Dan Stevens  (Edward Ferrars), Mark Gatiss (John Dashwood), Daisy Haggard (Miss Steele), Anna Madeley (Lucy Steele), Leo Bill (Robert Ferrars), Tim McMullan (Mr Palmer), Tabitha Wady (Charlotte Palmer)

3 episodes, 2h 54min.

Comparisons with Ang Lee’s splendid film version are inevitable, yet somehow the somewhat greater length gives this a deeper dimension that the albeit very entertaining film version.

Even though this version gets higher IMDb rating, the writer still loves the 1995 version better. You should watch both versions to make a conclusion for yourself.

Sān guó yǎn yì (Romance of the three kingdoms) – Luo Guanzhong

Goodreads Rating: 4.6

The empire, long divided, must unite; long united, must divide. Thus it has ever been.” With this characterization of the inevitable cycle of Chinese history, the monumental tale Three Kingdoms begins. As important for Chinese culture as the Homeric epics have been for the West, this Ming Dynasty masterpiece continues to be read and loved throughout China as well as in Japan, Korea, and Vietnam. The novel offers a startling and unsparing view of how power is wielded, how diplomacy is conducted, and how wars are planned and fought; it has influenced the ways that Chinese think about power, diplomacy, and war even to this day.

Three Kingdoms portrays a fateful moment at the end of the Han Dynasty (206 B.C.-A.D. 220) when the future of the Chinese empire lay in the balance. Writing more than a millennium later, Luo Guanzhong drew on often told tales of this turbulent period to fashion a sophisticated compelling narrative, whose characters display vivid individuality and epic grandeur.

The story begins when the emperor, fearing uprisings by peasant rebels known as the Yellow Scarves, sends an urgent appeal to the provinces for popular support. In response, three young men – the aristocratic Liu Xuande, the fugitive Lord Guan, and the pig-butcher Zhang Fei – meet to pledge eternal brotherhood and fealty to their beleaguered government. From these events comes a chain of cause and consequence that leads ultimately to the collapse of the Han…

As a trivia, the book served as a warfare reference for the Manchurian generals who defeated the Ming army and overthrew this dynasty, thus establishing the Qing dynasty that ruled China from 1644 to 1912.

The romance of three kingdoms (TV series 1994) IMDb Rating: 8.6

General Director: Wang Fulin, partial directors: Zhang Shaolin, Shen Haofang, Sun Guangming, Zhang Zhongyi, Cai Xiaoqing

Main cast: Sun Yanjun (Liu Bei), Tang Guoqiang (Zhuge Liang), Bao Guo’an (Cao Cao), Lu Shuming (Guan Yu), Li Jingfei (Zhang Fei), Wu Xiaodong (Sun Quan / Sun Jian), Zhang Guangbei (Lü Bu), Li Po (Dong Zhuo), Chen Hong (Diaochan), Li Qingxiang (Yuan Shao (older)), Zhang Shan (Zhao Yun (younger)), Wei Zongwan (Sima Yi (older)), Pu Cunxin (Sun Ce), Hong Yuzhou (Zhou Yu / Yuan Shao (younger)), He Jing (Xiaoqiao), Hu Zhanli (Meng Huo), Li Yunjuan (Lady Zhurong)

84 episodes.

Due to the time taken to complete the project (four years), there were some instances of (1) multiple actors playing the same character or (2) the same actor taking on multiple roles.

Usually the movie does not do justice to the novel, but this series does it justice and more. Romance of the Three kingdoms is a must see for anybody who is interested in this period of Chinese history. Love, drama, war, loyalty, and trickery all make their presences felt in this epic.

One drawback is shown in the battle scenes: for a story of tens of thousands soldiers we see like only a hundred, and for the heroic fighting skills of great historic generals we see a little bit like child plays. With more extras and with a little training on fighting, the film would show a true epic.

The romance of three kingdoms (TV series 2010) IMDb Rating: 8.2

Main cast: Chen Jianbin (Cao Cao), Yu Hewei (Liu Bei), Lu Yi (Zhuge Liang), Yu Rongguang (Guan Yu), Kang Kai (Zhang Fei), Nie Yuan (Zhao Yun), Ni Dahong (Sima Yi), Yu Bin (Cao Pi), Luo Jin (Liu Xie), Lü Xiaohe (Dong Zhuo), Peter Ho (Lü Bu), Chen Hao (Diao Chan), Zhang Bo (Sun Quan), Ruby Lin (Lady Sun), Victor Huang (Zhou Yu), Sha Yi (Sun Ce), Liu Jing (Da Qiao), Zhao Ke (Xiao Qiao)

95 episodes

This version sets a record as the most expensive small screen series so far in China’s television history, having been sold to four regional TV broadcasters at the price of 160 million yuan. It has also been sold to over 20 countries, earning an estimated 800 million RMB (133.3 million USD) in total as of May 2012. The series was a commercial success in China and dominated ratings, but has caused controversy among fans with many commenting that the TV series has veered too far from the classic novel.

The cinematography is beautiful, and the battle scenes are much grander and more impressive than the 1995 version. The characters are more natural and realistic.

Some reviewers complain that there is too much woman in the story, since the original novel never mentions much about woman.

My only objection is that no matter what the natural scenes are, the producer makes the film mainly in various degrees of grey, reducing to the air of solemnity rather than epic.

Tevye the Dairyman and the Railroad Stories – Sholem Aleichem

Goodreads Rating: 4.2

Of all the characters in modern Jewish fiction, the most beloved is Tevye, the compassionate, irrepressible, Bible-quoting dairyman from Anatevka, who has been immortalized in the writings of Sholem Aleichem and in acclaimed and award-winning theatrical and film adaptations.

And no Yiddish writer was more beloved than Tevye’s creator, Sholem Rabinovich (1859–1916), the “Jewish Mark Twain,” who wrote under the pen name of Sholem Aleichem. Here is Sholem Aleichem’s heartwarming and poignant account of Tevye and his daughters, together with the “Railroad Stories,” twenty-one tales that examine human nature and modernity as they are perceived by men and women riding the trains from shtetl to shtetl.

Fiddler on the roof (1971) IMDb Rating: 8.0

Director: Norman Jewison

Writers: Sholem Aleichem), Arnold Perl

Stars: Topol, Norma Crane, Leonard Frey, Molly Picon, Paul Mann, Rosalind Harris, Michele Marsh

Epic in plot, setting and length, Fiddler on the roof tells a surprisingly tight and focused story that has “universal” poignancy – in a nutshell, it’s about trying to maintain strong cultural traditions and identity in the face of a continually changing world, partially fueled by the youth, that doesn’t necessarily share the culture’s values or self-assessment of worth.

Fiddler on the roof 2Aleichem’s Tevye stories were first turned into a Broadway musical, which began its initial run in 1964 with Zero Mostel as Tevye. Producer and director Norman Jewison was asked around early 1970 by United Artists to helm the Fiddler on the roof film. To their surprise, Jewison wasn’t Jewish. He got the gig anyway, and in August 1970, began an arduous shoot–much of it done in a small village in Yugoslavia that refused to cooperate when it came to weather (Jewison couldn’t get the snow he wanted). He ended up getting a lot of pressure because the shoot went over time and over budget – this was one of the most expensive films of its time, which was an era of economic woes for Hollywood – but of course we know it paid off in the end.

Zero Mostel was out as Tevye, and Israeli actor Chaim Topol, or just “Topol”, was in, based largely on Jewison seeing him in the role of Tevye in the London stage production of Fiddler. Jewison had said that he was shooting for more realism in the film, as opposed to what he saw as a kind of campy humor in the Broadway production.

The film won 3 Oscars: Best Cinematography; Best Sound; Best Music, Scoring Adaptation and Original Song Score, together with another 6 wins & 13 nominations.

The Elephant Man and other reminiscences – Frederick Treves

Goodreads Rating: 3.9

“There stood revealed the most disgusting specimen of humanity that I have ever seen. In the course of my profession I had come across lamentable deformities of the face due to injury or disease, as well as mutilations and contortions of the body depending upon like causes; but at no time had I met with such a degraded or perverted version of a human being as this lone figure displayed.”

So said Sir Frederick Treves of the Royal London Hospital regarding the first time he laid eyes on the Elephant Man, Joseph Merrick.

Merrick was born in Leicester, England on August 5, 1862. His deformity began developing by the age of 21 months and grew worse with time. Regardless, Merrick went to school until the age of 12 and began working in a cigar factory by 13. Sadly, his condition made him more and more clumsy, until he eventually could no longer handle the job. Ultimately, he ended up being exhibited as a freak in London.

The Elephant Man’s sideshow career was ended by Treves, who convinced Merrick’s showman, Tom Norman, to allow him an examination at the hospital. Although Norman continued to tour with Merrick afterward, the exhibition was short-lived. People were too appalled by his appearance and profits waned. The show closed and the Elephant Man found his way back to Treves. By 1886, after some internal negotiations, the doctor was able to secure a permanent room for the Merrick to call home.

“Merrick had now something he had never dreamed of, never supposed to be possible – a home of his own for life,” Treves wrote in The Elephant Man and other reminiscences.

The Elephant Man (1980) IMDb Rating: 8.3

Director: David Lynch

Stars: Anthony Hopkins (Dr. Frederick ‘Freddie’ Treves), John Hurt (John Merrick), Anne Bancroft, John Gielgud, Wendy Hiller, Freddie Jones (Bytes), Michael Elphick

Perhaps except for pregnant women, you must watch this film of high humane value.

The Elephant Man 2
John Merrick and Dr. Treves

A Victorian surgeon rescues a heavily disfigured man who is mistreated while scraping a living as a side-show freak. Behind his monstrous facade, there is revealed a person of intelligence and sensitivity.

David Lynch is a remarkable director and The Elephant Man is a remarkable film. Inspired by a true story in the streets of London during the Victorian Age, the film is based entirely around the life of John Merrick, an individual dubbed by his ‘owner’ Bytes and others as “The Elephant Man” because of his hideous deformities. With this film, Lynch grasps his audience and stretches them to a new parallel of an emotionally capturing film. And what makes this so daunting and so intriguing is the fact that The Elephant Man is a true story, no part of it is fictional.

In one powerful scene of tension and curiosity, John Merrick screams out, “I am not an animal! I am a human being! I am a man!” This particular sequence ties in with the whole focus of the film itself, human dignity and emotion.

The Elephant Man is a film about where our empathy stems from, a film that asks you to feel sorry but rebukes you for your blind pity. It asks you to respect Merrick, not cry for him. The Elephant Man is a film that treks you through despair and asks for your hope in the end. It asks you to hate humanity but to love the humane. It asks you to look at a man who appears sad and know that inside, he’s okay.

The fault in our stars – John Green

Goodreads Rating: 4.3

The story is narrated by Hazel Grace Lancaster, a 16-year-old girl with cancer. Hazel is forced by her parents to attend a support group where she subsequently meets and falls in love with 17-year-old Augustus Waters, an ex-basketball player and amputee.

Insightful, bold, irreverent, and raw, The fault in our stars is award-winning author John Green’s most ambitious and heartbreaking work yet, brilliantly exploring the funny, thrilling, and tragic business of being alive and in love.

The fault in our stars (2014) IMDb Rating: 7.8

Director: Josh Boone

Stars: Shailene Woodley (Hazel), Ansel Elgort (Gus), Nat Wolff (Isaac), Laura Dern (Frannie), Sam Trammell (Michael)

Hazel Grace Lancaster – a 16-year-old with cancer that has spread to her lungs – attends a cancer patient support group at her mother’s behest. At first, she hesitates because she feels like it has done her nothing. She thinks attending the support group could be the worst part of her life, until a particular support meeting, Hazel meets a 17-year-old boy named Augustus Waters, whose osteosarcoma caused him to lose his right leg, which was replaced with a prosthetic. Augustus is at the support meeting to support, Isaac, a boy Augustus’ age with eye cancer. Upon catching Augustus staring at her, Hazel suddenly feels self-conscious.

It should be agonizing, this tale of doomed love between cancer-stricken teens. It should be passionate, engrossing, suspenseful, something – even unabashed melodrama would have been appropriate, given the subject matter.

the-fault-in-our-stars-movie-wallpaper-5
Hazel and Augustus in Amsterdam

Instead, the film version of the best-selling novel The fault in our stars feels emotionally inert, despite its many moments that are meant to put a lump in our throats. Perhaps it’s trying so hard to bludgeon us over the head and make us feel deeply that the result is numbing instead. There’s something just off about it for the vast majority of the time – an awkwardness to the staging, framing and pacing in director Josh Boone’s adaptation of author John Green’s tear-jerking, young adult phenomenon, and a need to spell everything out.

The fault in our stars was released to positive critical reception, with praise for Woodley’s and Elgort’s performances as well as the script. The film was also a blockbuster, grossing over $307 million worldwide against a budget of $12 million. It was released on Blu-ray and DVD and grossed over $42 million in total domestic video sales.

The fault in our stars is definitely one of the best romantic movies ever. You must watch this film of high humane value.

The Godfather – Mario Puzo

Goodreads Rating: 4.4

The Godfather – the epic tale of crime and betrayal that became a global phenomenon. A searing portrayal of the Mafia underworld, The Godfather introduced readers to the first family of American crime fiction, the Corleones, and their powerful legacy of tradition, blood, and honor. The seduction of power, the pitfalls of greed, and the allegiance to family – these are the themes that have resonated with millions of readers around the world and made The Godfather the definitive novel of the violent subculture that, steeped in intrigue and controversy, remains indelibly etched in our collective consciousness.

The Godfather (1972) IMDb Rating: 9.2 (Top #2 IMDb)

Director: Francis Ford Coppola

Writers: Mario Puzo (screenplay), Francis Ford Coppola (screenplay)

Stars: Marlon Brando (Don Vito Corleone), Al Pacino (Michael Corleone), James Caan (Sonny Corleone), Richard S. Castellano (Clemenza), Robert Duvall (Tom Hagen), Sterling Hayden (Capt. McCluskey), John Marley (Jack Woltz), Richard Conte (Barzini), Al Lettieri (Sollozzo), Diane Keaton (Kay Adams), Abe Vigoda (Tessio), Talia Shire (Connie)

This is a masterpiece. A timeless masterpiece. The acting from everyone involved is great, Marlon Brando comes across perfectly as the head of the family, and James Caan and Al Pacino are excellent as his sons. The soundtrack by Nino Rota is also very memorable, bringing back memories of the film every time we hear it. The song Speak softly, love lives forever in the audience’s hearts. The plot has to be excellent for it to get ten out of ten, and it is, it’s far from predictable and the film is the definition of a great epic.

There is nothing weak about this film, except for those who are not accustomed to watch low-lighting scenes.

The film receives 3 Oscars: Best Picture, Best Actor in a Leading Role (Marlon Brando), Best Screenplay, plus another 24 wins & 28 nominations.

The Godfather: Part II (1974) IMDb: 9.0

Director: Francis Ford Coppola

Writers: Francis Ford Coppola (screenplay by), Mario Puzo (screenplay by)

Stars: Al Pacino (Michael), Robert Duvall (Tom Hagen), Diane Keaton (Kay), Robert De Niro (Vito Corleone, John Cazale (Fredo Corleone), Talia Shire (Connie Corleone), Lee Strasberg (Hyman Roth), Michael V. Gazzo (Frankie Pentangeli), G.D. Spradlin (Senator Pat Geary), Richard Bright (Al Neri), Tom Rosqui (Rocco Lampone), Bruno Kirby (young Clemenza), James Caan (Sonny Corleone), Abe Vigoda (Tessio), Mario Cotone (Don Tommasino)

This is both a sequel and prequel showing the rise of the young Vito and moral decline of Micheal. Both characters are brought to life with uncanny ability by Robert DeNiro and Al Pacino .

Simply put: Great ensemble acting, great story, greatest sequel ever made.

The film receives 6 Oscars: Best Picture (The movie became the first sequel to win this award), Best Actor in a Supporting Role, Best Director, Best Screenplay Adapted from other Material, Best Art Direction-Set Decoration, Best Music, plus another 11 wins & 20 nominations.

The Green Mile – Stephen King

Goodreads Rating: 4.4

When it first appeared, one volume per month, Stephen King’s The Green Mile was an unprecedented publishing triumph: all six volumes ended up on The New York Times bestseller lists – simultaneously – and delighted millions of fans the world over.

Welcome to Cold Mountain Penitentiary, home to the Depression-worn men of E Block. Convicted killers all, each awaits his turn to walk the Green Mile, keeping a date with “Old Sparky,” Cold Mountain’s electric chair. Prison guard Paul Edgecombe has seen his share of oddities in his years working the Mile. But he’s never seen anyone like John Coffey, a man with the body of a giant and the mind of a child, condemned for a crime terrifying in its violence and shocking in its depravity. In this place of ultimate retribution, Edgecombe is about to discover the terrible, wondrous truth about Coffey, a truth that will challenge his most cherished beliefs… and yours.

The Green Mile (1999) IMDb Rating: 8.5

Director: Frank Darabont

Writers: Stephen King (novel), Frank Darabont (screenplay)

Stars: Tom Hanks, Michael Clarke Duncan, David Morse

This wonderful story was adapted by Frank Darabont, who did such a magnificent job bringing King’s Shawshank Redemption to the screen. He does the same high quality work with The Green Mile. The story is faithful to the book, only losing details that were not important to the story anyway. The casting is superb – every actor is perfectly suited for his role and does an excellent job, although we may single out Doug Hutchison. His portrayal of the detestable Percy is right on the mark and suggests complexities in this character not discovered in the book. The film never drags and is never dull, and it certainly didn’t feel three hours long. The length is needed to tell this story the way it should be told, and the story is so very engrossing. Best of all, Darabont and the actors bring so much emotion to the screen,

The film receives 15 wins and 36 nominations.

The longest day – Cornelius Ryan

Goodreads Rating: 4.1

The longest day is Cornelius Ryan’s unsurpassed account of D-Day, a book that endures as a masterpiece of military history. In this compelling tale of courage and heroism, glory and tragedy, Ryan painstakingly recreates the fateful hours that preceded and followed the massive invasion of Normandy to retell the story of an epic battle that would turn the tide against world fascism and free Europe from the grip of Nazi Germany.

This book, first published in 1959, is a must for anyone who loves history, as well as for anyone who wants to better understand how free nations prevailed at a time when darkness enshrouded the earth..

The longest day (1962) IMDb Rating: 7.8

Director: Ken Annakin (British & French exteriors), Andrew Marton (American exteriors), Bernhard Wicki (German episodes), Gerd Oswald (parachute drop), Darryl F. Zanuck (uncredited)

Writers: Cornelius Ryan (screenplay), Cornelius Ryan (book), Romain Gary (additional episodes written by), James Jones (additional episodes written by) David Pursall (additional episodes written by), Jack Seddon (additional episodes written by)

Stars: Paul Anka (Private, 2nd Ranger Battalion), Henry Fonda (Brigadier General Theodore Roosevelt, Jr., Assistant Commander, 4th Infantry Division), Henry Grace, dubbed by Allen Swift (General Dwight D. Eisenhower, Supreme Commander, Allied Expeditionary Forces), Robert Mitchum (Brigadier General Norman Cota, Assistant Commander, 29th Infantry Division), Robert Ryan (Brigadier General James M. Gavin, Assistant Commander, 82nd Airborne Division), Robert Wagner (Private, 2nd Ranger Battalion), John Wayne (Lieutenant Colonel Benjamin H. Vandervoort, CO, 2nd Battalion, 505th Parachute Infantry Regiment, Richard Burton (Flying Officer David Campbell, Royal Air Force fighter pilot), Sean Connery (Private Flanagan, 3rd Infantry Division), Peter Lawford (Brigadier Lord Lovat, Commander, 1st Special Service Brigade), Trevor Reid (General Sir Bernard Montgomery, Commander-in-Chief, Allied Armies), John Robinson (Admiral Sir Bertram Ramsay, Allied Naval Commander-in-Chief), Irina Demick (Janine Boitard, French Resistance), Jean-Louis Barrault (Father Louis Roulland, parish priest of Sainte-Mère-Église), Hans Christian Blech (Major Werner Pluskat, 352nd Artillery Regiment, 352nd Infantry Division), Wolfgang Büttner (Generalleutnant Dr. Hans Speidel, Chief of Staff, Army Group B), Paul Hartmann (Generalfeldmarschall Gerd von Rundstedt, Commander, OB West), Ruth Hausmeister (Lucie Rommel, Rommel’s wife), Werner Hinz (Generalfeldmarschall Erwin Rommel, Commander, Army Group B), Curt Jürgens (General der Infanterie Günther Blumentritt, Chief of Staff, OB West), Wolfgang Preiss (Generalleutnant Max Pemsel, Chief of Staff, 7th Army)

This is the masterpiece of all times that no war movies can surpass, except perhaps the TV series The band brothers.

The movie is filmed in the style of a docudrama. Beginning in the days leading up to D-Day, it concentrates on events on both sides of the channel. The film pays particular attention to the decision by Gen. Eisenhower, Supreme Commander of SHAEF, to go after reviewing the initial bad-weather reports as well as reports about the divisions within the German High Command as to where an invasion might happen or what the response to it should be.

TLD_Every fourth man died
The Normandy landing on D Day

Numerous scenes document the early hours of June 6 when Allied airborne troops were sent in to take key locations inland from the beaches. The French resistance is also shown reacting to the news that an invasion has started. The Longest Day chronicles most of the important events surrounding D-Day, from the British glider missions, the counterattacks launched by American paratroopers, the infiltration and sabotage work conducted by the French resistance, to the response by the Wehrmacht to the invasion and the uncertainty of German commanders as to whether it was a feint in preparation for crossings at the Pas de Calais.

The run of his life: The people v. O. J. Simpson – Jeffrey Toobin

Goodreads Rating: 4.2

Called by The Wall Street Journal “the pick of the litter” among books on the O.J. Simpson criminal trial, this is the definitive commentary on the most famous trial of this century.

This is a fantastic true crime book. Jeffrey Toobin is one of those rare people who can take complex legal issues and explain them to laypeople, while also writing fantastic descriptions and crafting a good narrative.

American crime story Season 1: The People v. O. J. Simpson (2016) IMDb Rating: 8.5

Directors: various

Stars: Cuba Gooding Jr. (O.J. Simpson), Sarah Paulson (Marcia Clark), John Travolta (Robert Shapiro), Courtney B. Vance (Johnnie Cochran), Sterling K. Brown (Christopher Darden), Kenneth Choi (Judge Lance Ito), Nathan Lane (F. Lee Bailey), David Schwimmer (Robert Kardashian), Christian Clemenson (Bill Hodgman), Bruce Greenwood (Gil Garcetti)

This is based on Jeffrey Toobin’s account, The run of his life, about the murder trial of the African-American O. J. Simpson and the events leading up to it. But this film diverges from the mostly legal and characterological view that Toobin took at the time. It adds some things, intimate conversations, solitary acts, some of them certainly fabricated, and eliminates some of Toobin’s more cynical observations.

The case of O.J. Simpson is one that received wide-scale media coverage and attention with the events being closely followed by many and is now the topic of biographical crime drama, American Crime Story. However despite this, this show manages to remain just as gripping and haunting as the case was in real life.

The acting is across the board incredibly strong with not a weak performance among the main ensemble; Cuba Gooding Jr. and John Travolta in particular stand out. The writing is sharp, never is it overly formulaic or mundane but understandable and real, tension is built tremendously from the dialogue alone. But above all the direction is excellent, the tone is established straight from the beginning and it is crafted to such a high quality.

There is rarely a dull or wasted moment throughout, the story and pacing remains tight with no parts lacking in comparison to the soaring heights. The show, as said in the title of this review, is both evocative and powerful.

Rita Hayworth and the Shawshank redemption – Stephen King

Goodreads Rating: 4.5

This is a novella by Stephen King, from his 1982 collection Different Seasons, subtitled Hope Springs Eternal.

In 1947, in Maine, Andy Dufresne, a banker, is tried and convicted for the double murder of his wife and her lover, despite his claims of innocence. He is sent to Shawshank State Penitentiary to serve a double life sentence. There, he meets Red, a prisoner who smuggles items from the outside world. Andy, who had been an amateur geologist before being imprisoned, asks Red to get him a rock hammer for shaping rocks he collects from the exercise yard into small sculptures. One of the next items he orders from Red, is a large poster of Rita Hayworth. Over the ensuing years, Andy regularly requests more posters from Red, including pin-ups of Marilyn Monroe and Raquel Welch. When asked, Andy tells Red that he likes to imagine he can step through the pictures and be with the actresses.

The novella was adapted for the screen in 1994 as The Shawshank Redemption, and for the stage in 2009 as the play The Shawshank Redemption.

The Shawshank redemption (1994) MDb: 9.3 (top rated for movies)

Director: Frank Darabont

Stars: Tim Robbins (Andy Dufresne), Morgan Freeman (Ellis Boyd ‘Red’ Redding), Bob Gunton (warden Norton), Joseph Ragno (Ernie), Neil Giuntoli (Jigger), James Whitmore (Brooks Hatlen), William Sadler (Heywood), Clancy Brown (Captain Hadley), Mark Rolston (Bogs)

The film tells the story of banker Andy Dufresne, who is sentenced to life in Shawshank State Penitentiary for the murder of his wife and her lover, despite his claims of innocence. Over the following two decades, he befriends a fellow prisoner, contraband smuggler Ellis “Red” Redding, and becomes instrumental in a money laundering operation led by the prison warden Samuel Norton.

While the film received positive reviews, it was a box office disappointment, earning only $16 million during its initial theatrical run. Many reasons were cited for its failure at the time, including competition from films such as Pulp Fiction and Forrest Gump, to the general unpopularity of prison films, lack of female characters, and even the title, which was considered to be confusing for audiences. The film was nominated for 7 Oscars but won none.

The film is now considered to be one of the greatest films of the 1990s. As of 2017, the film is still broadcast regularly, and is popular in several countries, with audience members and celebrities citing it as a source of inspiration, and naming the film as a favorite in various surveys. In 2015, the United States Library of Congress selected the film for preservation in the National Film Registry, finding it “culturally, historically, or aesthetically significant”.

To kill a mockingbird – Harper Lee

Goodreads Rating: 4.4

The unforgettable novel of a childhood in a sleepy Southern town and the crisis of conscience that rocked it, To kill a mockingbird became both an instant bestseller and a critical success when it was first published in 1960. It went on to win the Pulitzer Prize in 1961 and was later made into an Academy Award-winning film, also a classic.

Compassionate, dramatic, and deeply moving, To kill a mockingbird takes readers to the roots of human behavior –  to innocence and experience, kindness and cruelty, love and hatred, humor and pathos. Now with over 18 million copies in print and translated into forty languages, this regional story by a young Alabama woman claims universal appeal. Harper Lee always considered her book to be a simple love story. Today it is regarded as a masterpiece of American literature.

To kill a mockingbird (1962) IMDb Rating: 8.3

Director: Robert Mulligan

Stars: Gregory Peck (Atticus Finch), John Megna (Dill Harris), Overton (Sheriff Heck Tate), Rosemary Murphy (Maudie Atkinson), Ruth White (Mrs. Dubose). Brock Peters (Tom Robinson)

This is the movie based on the Harper Lee novel of the same name about Scout, Jem and their father, Atticus Finch who is an attorney in a small southern town. It is both a coming of age story about the children as well as a hard-hitting drama, as Atticus defends a black man who is on trial for the rape of a white woman.

To kill a mocking bird_movie
Gregory Peck as lawyer Atticus Finch defending Tom Robinson

Of course, the defense of a man wrongly accused of a crime is a common story line, but To kill a mockingbird stands out as an exceptional example for several reasons. Among them, the date that the film was released: 1962, on the cusp of the civil rights movement in America, and the fact that it takes place in the south in the 1930’s. It is also far from the first film to explore the experiences of children and their own personal growth, but To kill a mockingbird stands out because of its sheer honesty and natural performances by the child actors portraying these rich characters.

One of the things that makes To kill a mockingbird a truly great film is the love and respect everyone involved in bringing Harper Lee’s novel to the screen had for the original source material. It shows up on screen in every single frame. Each performance in this film is beyond reproach. Gregory Peck had many fine performances over his career, but none every approached the perfection he brought to his portrayal of Atticus Finch.

Do not miss this film whether you have read the book or not.

Анна Каренина (Anna Karenina) – Leon Tolstoy

Goodreads Rating: 4.0

Acclaimed by many as the world’s greatest novel, Anna Karenin provides a vast panorama of contemporary life in Russia and of humanity in general. In it Tolstoy uses his intense imaginative insight to create some of the most memorable characters in literature. Anna is a sophisticated woman who abandons her empty existence as the wife of Karenin and turns to Count Vronsky to fulfil her passionate nature – with tragic consequences. Levin is a reflection of Tolstoy himself, often expressing the author’s own views and convictions.

Throughout, Tolstoy points no moral, merely inviting us not to judge but to watch. As Rosemary Edmonds comments, ‘He leaves the shifting patterns of the kaleidoscope to bring home the meaning of the brooding words following the title, ‘Vengeance is mine, and I will repay.

The movel has been made into more than 30 movies, not only in Russia but also in Argentina, Britain, Egypt, France, Germany, India, USA. In spite of this high number, there is no theater film masterpiece like Doctor Zhivago (1965).

The following films are noteworthy.

Anna Karenina (1935) IMDb Rating: 7.1

Director: Clarence Brown

Stars: Greta Garbo (Anna Karenina), Fredric March (Vronsky), Freddie Bartholomew (Sergey), Basil Rathbone (Karenin), Maureen O’Sullivan (Kitty), May Robson (Countess Vronsky), Reginald Owen (Stiva)

The film earned won the Mussolini Cup for best foreign film at the Venice Film Festival. Greta Garbo received a New York Film Critics Circle Award for Best Actress for her role as Anna. In addition, the film was ranked #42 on the American Film Institute’s list of AFI’s 100 Years… 100 Passions.

Greta Garbo 1935
Greta Garbo in Anna Karenina (1935)

Despite the numerous remakes of Tolstoy’s story that followed, the 1935 version continues to resonate because of its impressive performances. On the whole, it is a picture of merit. It is decorative, well-meaning, and full of neat encounters, and it certainly presents a Garbo in the high summer of her maturity, richer and more mellow than she has ever been before.

Anna Karenina (1967) IMDb Rating: 7.2

Director: Aleksandr Zarkhi

Stars: Tatyana Samoylova (Anna Karenina), Nikolai Gritsenko (Alexander Alexandrovich Karenin), Vasiliy Lanovoy, Maya Plisetskaya (Betsy Tverskaya)

After several previous attempts by foreign directors that some critics consider to miss the mark, this Russian film version of Leo Tolstoy’s classic novel Anna Karenina most accurately follows the Tolstoy novel, considered by some to remain superior to all other versions to date.

Starring in the title role was the famous Russian actress Tatiana Samoilova (The cranes are flying, in Russian Летят журавли). Nikolai Gritsenko and the internationally known ballet dancer Maya Plisetskaya also contributed to the film success.

Anna Karenina (TV mini-series 1977– ) IMDb Rating: 8.1

Director: Nicola Pagett (Anna Karenina), Stuart Wilson (Vronsky), Eric Porter (Karenin), Robert Swann (Levin), Davyd Harries (Stiva), Caroline Langrishe (Kitty)

10 episodes, total length of 8h 20min.

In its performances and dialogue and sheer emotional highs and lows, this version is considered to be superior to any previous ones. Nicola Paget was simply smashing – she will simply break your heart with her portrayal of Anna veering from thoughtless frivolity to total despair. And Count Vronsky is played by the dashing charming Stuart Wilson, who looks every bit the part of a man a woman would give up so much for; while Eric Porter is perfect as Karenin, strong, tormented, and complicated. The trio of superb performances includes Eric Porter as Anna’s rigid and emotionally devastated husband, who is hiss-worthy in many scenes, yet manages to convey the emotions boiling inside of him, giving one pause to totally hate him. In support the rest of the cast are excellent too, especially Sheila Gish as Betsy and Mary Morris as Countess Vronsky.

The scenes, costumes and music (quite a lot of Tchaikovsky) are also satisfactory.

This mini-series is well worth your time and doesn’t have a dated feel at all – the space given to the story means this version has more weight than those with Garbo or Vivien Leigh.

Anna Karenina (1997) IMDb Rating: 6.4

Director: Bernard Rose

Stars: Sophie Marceau (Anna Karenina), Sean Bean (Vronsky), Alfred Molina (Levin), Mia Kirshner (Kitty), James Fox (Karenin), Fiona Shaw (Lydia), Danny Huston (Stiva)

This film is the only international version filmed entirely in Russia, at locations in Saint Petersburg and Moscow. The careful direction and art direction, the St. Petersburg backgrounds, as well as the exquisite cinematography, make this movie a real feast for the eyes, with magnificent plastic compositions and lighting in every shot. The costumes were the best for 19 century, designed by the internationally well-known Italian designer, Maurizio Millenotti.

Music by Tchaikovsky, Rachmaninov, and Prokofiev was performed by the St. Petersburg Philharmonic, with the Symphony No. 6 “Pathetique” of Tchaikovsky served as background music in line with the story.

This is one of the most well-known version, also the most controversial: while critics think the movie is like a storyboard for Anna Karenina‘ with the life and subtlety still to be added, the common audience like it because it’s faithful to the novel and a pleasure for the eyes and ears! Of many versions of the Tolstoy novel, this is the one that really reflects the scope and social observation of the book.

Sophie Marceau plays a very young Anna, and makes her credible all the time. Sean Bean and James Fox, as Vronsky and Karenin, are admirable. And even if the screen play by director Bernard Rose is a little too literary, the complete story was told, and the result was the best Anna Karenina the screen has offered.

Anna Karenina (2012) Director: Joe Wright

Stars: Keira Knightley, Aaron Taylor-Johnson, Cecily Morrissey, Freya Galpin, Guro Nagelhus Schia, Aruhan Galieva, Jude Law

IMDb Rating: 6.6

In Joe Wright’s daringly stylized new version of Anna Karenina, he returns to use Keira Knightley as his heroine. She is almost distractingly beautiful here and elegantly gowned to an improbable degree.

To the common audience, this film is elegant like an opera, with splendid, vibrant spectacles full of classic colors. To the critics, this is a sumptuous film – extravagantly staged and cinematographed, perhaps too much so for its own good. There are times when it is not quite clear if we are looking at characters in a story or players on a stage. Productions can sometimes upstage a story, but when the story is as considerable as Anna Karenina, that can be a miscalculation.

The film got 4 Oscar prizes and won 1: Costumes.

До́ктор Жива́го (Doctor Zhivago) – Boris Pasternak

Goodreads Rating: 4.0

This epic tale about the effects of the Russian Revolution and its aftermath on a bourgeois family was not published in the Soviet Union until 1987. One of the results of its publication in the West was Pasternak’s complete rejection by Soviet authorities; when he was awarded the Nobel Prize for Literature in 1958 he was compelled to decline it. The book quickly became an international best-seller.

Dr. Yury Zhivago, Pasternak’s alter ego, is a poet, philosopher, and physician whose life is disrupted by the war and by his love for Lara, the wife of a revolutionary. His artistic nature makes him vulnerable to the brutality and harshness of the Bolsheviks. The poems he writes constitute some of the most beautiful writing in the novel..

Doctor Zhivago (1965) IMDb Rating: 8.0

Director: David Lean

Stars: Omar Sharif (Yuri), Julie Christie (Lara), Geraldine Chaplin (Tonya), Rod Steiger (Komarovsky), Alec Guinness (Yevgraf)

Even though there are two TV series of 2002 and 2006, the movie of 1965 is most preferable, and is considered to be a classic of all times.

It is a British-Italian epic romantic drama film set in Russia between the years prior to World War I and the Russian Civil War of 1917–1922, and is based on the 1957 Boris Pasternak novel of the same name. While immensely popular in the West, the book Doctor Zhivago was banned in the Soviet Union for decades. For this reason, the film could not be made in the Soviet Union and was instead filmed mostly in Spain.

doctor-zhivago-poster

Contemporary critics were generally disappointed, complaining of its length at over three hours, and claiming that it trivialized history, but acknowledging the intensity of the love story and the film’s treatment of human themes. Over time, however, the film’s reputation has improved greatly. Doctor Zhivago won five Oscars: Adapted Screenplay, Original Score, Cinematography, Art Direction and Costume Design; it was nominated for five others (including Picture and Director), but lost four of these five to The Sound of Music. It also won five Golden Globe Awards including Motion Picture-Drama and Actor-Motion Picture Drama for Sharif.

Lara’s theme is added with lyrics to become the song Somewhere, my love, nominated for Grammy Award the Song of the Year but lost to Michelle of the Beatles, even though it is enjoyed still today.

As of 2016, it is the eighth highest-grossing film of all time in the United States and Canada, adjusted for ticket-price inflation. It was ranked by the American Film Institute in 1998 as the 39th greatest film on their 100 Years… 100 Movies list, and by the British Film Institute the following year as the 27th greatest British film of all time.

Тихий Дон (And quiet flows the Don) – Mikhail Alexandrovich Sholokhov

Goodreads Rating: 4.0

And quiet flows the Don or Quietly flows the Don (Russian: Тихий Дон, literally “Quiet Don”) is an epic novel in four volumes, the first three were published in 1928–1932, and the fourth was finished in 1940. The English translation of the first three volumes appeared under this title in 1934.

The novel is considered one of the most significant works of world and Russian literature in the 20th century. It deals with the life of the Cossacks living in the Don River valley during the early 20th century, probably around 1912, just prior to World War I. The plot revolves around the Melekhov family of Tatarsk, who are descendants of a cossack who, to the horror of many, took a Turkish captive as a wife during the Crimean War. She is accused of witchcraft by Melekhov’s superstitious neighbors, who attempt to kill her but are fought off by her husband. Their descendants, the son and grandsons, who are the protagonists of the story, are therefore often nicknamed “Turks”. Nevertheless, they command a high amount of respect among people in Tatarsk.

In 1965, Sholokhov was awarded the Nobel Prize for Literature for this novel.

Quiet flows the Don (1957) IMDb Rating: 7.8

Director: Sergey Gerasimov

Stars: Pyotr Glebov, Elina Bystritskaya, Zinaida Kirienko

3 episodes, total length nearly 7 hours and a half.

And quiet flows the Don

The first two parts of the film were released in October 1957 and the final third part in 1958. In 1958 the film won Crystal Globe award at the Karlovy Vary International Film Festival and the Best Picture Award at the All-Union Film Festival. The film also won an Oscar for Foreign-Language Film.

An epic about the life of Don Cossacs in a village in southern Russia between 1912 and 1922. The leading character Grigori Melekhov is a rugged Cossac, who is torn between his first and true love Aksiniya, and his wife Natalya. Grigori Melekhov’s personal life is shown as a rough journey through the experience of World War One, the Russian Revolution, and the following Civil War. The Cossacs are shown as traditional farmers and warriors, who are suffering through the most dramatic events in the history of Russia.

The film causes a long-lasting impressions on love which is depicted truthfully and deeply. The music is nice, in line with the cast feelings, and the scenic is splendorous. The film is compared to, or even is considered better, Gone with the wind.

Compiled by: Diep Minh Tam

Diễn văn Thảm họa Challenger – Ronald Reagan

Ronald Reagan (1911-2004) là tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1981-1989. Sau khi nhận bằng cử nhân kinh tế và xã hội học, ông làm phát thanh viên cho đài phát thanh, rồi làm diễn viên điện ảnh và sau đó làm diễn viên truyền hình.

Ông vượt qua tổng thống đương nhiệm Jimmy Carter để đắc cử tổng thống, rồi bắt đầu những chính sách kinh tế rộng lớn dựa trên khía cạnh cung thay vì cầu. Nhờ tài hùng biện, ông thuyết phục được đại đa số nhân dân Mỹ và nhiều nước đồng minh để đồng thuận với ông. Một số bài diễn văn của ông được đánh giá là có tính hùng biện cao trong lịch sử Hoa Kỳ.

Trong các cuộc xếp hạng tổng thống Mỹ, Ronald Reagan luôn được đánh giá khá cao, thường ở trong nhóm 10 tổng thống Mỹ hàng đầu.

Sáng ngày 28 tháng 1 năm 1986, hàng triệu người Mỹ – trong số đó có nhiều học sinh ngồi trong lớp học – xem trực tiếp truyền hình quang cảnh phóng tàu con thoi Challenger. Có 7 phi hành gia, kể cả Christa McAuliffe, một nữ giáo viên trung học 37 tuổi, là phi hành gia dân sự đầu tiên trong chương trình không gian của Mỹ. Chỉ 73 giây đồng hồ sau khi rời khỏi giàn phóng, tàu con thoi Challenger nổ tung thành một khối cầu lửa và khói. Tất cả 7 phi hành gia đều thiệt mạng. Thảm họa khiến cho cả nước Mỹ bị sốc và đau buồn.

Chỉ vài tiếng đồng hồ sau thảm họa, Tổng thống Ronald Reagan phát biểu trên hệ thống phát thanh, vinh danh những người “tiền phong”, trấn an tinh thần dân chúng đang giao động, và khẳng định chương trình không gian của Mỹ vẫn tiếp tục.

Bài diễn văn này được đánh giá như sau:
*  Một trong 100 bài diễn văn chính trị quan trọng nhất của nước Mỹ trong Thế kỷ 20 (trang mạng AmericanRhetoric).
*  Một trong 35 bài diễn văn vĩ đại nhất trong lịch sử (trang mạng The Art of Manliness).
*  Được đưa vào Bộ Sưu tập 65 bài diễn văn vĩ đại nhất (Greatest Speech Collection) của trang mạng The History Place.

Tôi đã định nói chuyện với quý vị tối nay để trình bày tình hình đất nước, nhưng các sự kiện xảy ra ngày hôm nay khiến cho tôi phải thay đổi kế hoạch. Hôm nay là ngày tang tóc và tưởng nhớ. Nancy và tôi đau đớn tận đáy lòng vì thảm kịch tàu con thoi Challenger. Hai chúng tôi biết chúng tôi chia sẻ nỗi đau này với mọi người trên đất nước chúng ta. Đây đúng là một mất mát cho quốc gia.

Mười chín năm trước, gần ngày này, chúng ta mất ba phi hành gia trong một tai nạn kinh hoàng trên mặt đất. Nhưng chúng ta chưa từng mất phi hành gia nào khi đang bay. Chúng ta chưa từng có một thảm kịch như thế này. Và có lẽ chúng ta đã quên sự can đảm mà phi hành đoàn tàu con thoi cần có. Nhưng chính họ, Challenger Bảy, biết rõ về các hiểm nguy, vượt qua hiểm nguy mà thực hiện công việc một cách xuất sắc. Chúng ta thương tiếc bảy vị anh hùng: Michael Smith, Dick Scobee, Judith Resnik, Ronald McNair, Ellison Onizuka, Gregory Jarvis, và Christa McAuliffe. Cả nước chúng ta thương tiếc vì đã mất họ.

Reagan on Challenger disaster C
Ronald Reagan đọc diễn văn Thảm họa Challenger

Đối với tang quyến của bảy người, chúng ta không thể chịu đựng giỏi như quý vị, chịu đựng toàn bộ tác động của thảm họa này. Nhưng chúng ta vẫn cảm nhận sự mất mát, và chúng ta đang nghĩ về quý vị rất nhiều. Những người thân thương của quý vị đã tỏ ra gan dạ và dũng cảm, và họ đã có lòng tự nguyện đặc biệt ấy, có tinh thần đặc biệt ấy mà nói rằng “Hãy cho tôi thử thách, tôi sẽ lấy làm vui mà nhận.” Họ có khao khát thám hiểm vũ trụ và khám phá chân lý. Họ mong mỏi phục vụ, và họ đã phục vụ. Họ đã phục vụ tất cả chúng ta.

 

Chúng ta hằng quen thuộc với những điều kỳ diệu trong thế kỷ này. Chúng ta khó mà cảm thấy choáng ngợp. Nhưng trong hai mươi lăm năm nay, chương trình không gian của Hoa Kỳ đích thực làm cho chúng ta choáng ngợp. Chúng ta hằng quen thuộc với ý tưởng không gian, và có lẽ chúng ta đã quên rằng chúng ta chỉ mới khởi đầu. Chúng ta vẫn còn là những nhà tiền phong. Chính họ, những thành viên của phi hành đoàn Challenger, là những nhà tiền phong.

Tôi muốn nói đôi điều với các cháu học sinh của nước Mỹ đã xem trực tiếp truyền hình tàu con thoi cất cánh. Tôi biết khó mà hiểu được, nhưng đôi khi chuyện đau khổ như thế vẫn xảy ra. Tất cả là một phần của việc chấp nhận rủi ro và mở rộng chân trời của con người. Tương lai không thuộc về kẻ nhút nhát; nó thuộc về người dũng cảm. Phi hành đoàn tàu Challenger đang kéo chúng ta về tương lai, và chúng ta sẽ tiếp tục đi theo họ.

Tôi luôn tin tưởng mạnh mẽ và tôn trọng đối với chương trình không gian. Những gì xảy ra ngày hôm nay không làm suy giảm cảm nghĩ ấy. Chúng ta không che đậy chương trình không gian của chúng ta. Chúng ta không giữ bí mật và che đậy các sự kiện. Chúng ta làm mọi việc một cách minh bạch và trước công chúng. Đấy là cách thức của nền tự do, và chúng ta sẽ không thay đổi cách thức ấy một giây phút nào cả.

Chúng ta sẽ tiếp tục công cuộc thám hiểm không gian. Sẽ có thêm chuyến bay của tàu con thoi và sẽ có thêm phi hành đoàn tàu con thoi, và, vâng, thêm tình nguyện viên, thêm người dân sự, thêm giáo viên trong không gian. Không có gì chấm dứt ở đây; những kỳ vọng và những phi vụ của chúng ta vẫn tiếp tục.

Tôi muốn thêm rằng ước gì tôi có thể nói chuyện với từng nhân viên nam nữ làm việc cho NASA, hoặc những người làm việc cho phi vụ này và bảo họ: “Sự cống hiến và tính chuyên nghiệp của các bạn làm cho chúng tôi xúc động và có ấn tượng trong nhiều thập kỷ. Và chúng tôi hiểu rõ nỗi đau buồn của các bạn. Chúng ta cùng sẻ chia nỗi đau buồn ấy.”

Hôm nay có một sự trùng hợp. Chính vào ngày này 390 năm trước, nhà thám hiểm vĩ đại Sir Francis Drake qua đời trên một con tàu ngoài khơi Panama. Trong cuộc đời của ông, những biên cương to lớn là các đại dương, và một sử gia sau đó đã nói: “Ông ấy sống trên biển, chết trên biển, và được an táng xuống biển.” Thế thì, hôm nay, chúng ta có thể nói về phi hành đoàn Challenger: sự cống hiến của họ là toàn vẹn, giống như Drake.

Phi hành đoàn của tàu con thoi Challenger làm cho chúng ta cảm thấy vinh dự qua cách họ đã sống cuộc đời của họ. Chúng ta không bao giờ quên họ, và chúng ta cũng không quên lần cuối cùng chúng ta trông thấy họ, sáng hôm nay, khi họ chuẩn bị cho cuộc hành trình, đưa tay chào giã từ…

Cảm ơn quý vị.

Diệp Minh Tâm dịch từ bản ghi âm: http://174.132.193.190/~eiden/mp3clips/politicalspeeches/ronaldreaganchallengeraddress.mp3